Khóa luận: Tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng - ĐH Mở

Tổng hợp mẫu khóa luận tốt nghiệp Kim Anh chất lượng cao. Tài liệu tham khảo hữu ích về cấu trúc đề tài, phương pháp nghiên cứu và cách trình bày chuẩn.

Trường đại học

Trường Đại học Mở Hà Nội

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2020

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan khóa luận tốt nghiệp Kim Anh về trộm cắp tài sản

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Kim Anh nghiên cứu tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam. Đề tài lấy thực tiễn Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội làm minh chứng. Tác giả thuộc lớp Luật học 16, mã số sinh viên 16A50010050. Người hướng dẫn khoa học là Th.s Thiều Cẩm Sơn. Công trình bảo vệ tại Trường Đại học Mở Hà Nội, tháng 09 năm 2020. Khóa luận thuộc ngành Luật, mã ngành 7380101. Nội dung tập trung làm rõ khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản. Tác giả phân tích cấu thành tội phạm theo quy định Bộ luật Hình sự 2015. Đồng thời, khóa luận so sánh pháp luật Việt Nam với một số quốc gia khác. Phần thực tiễn khảo sát số liệu xét xử giai đoạn 2016-2019. Các bảng biểu, biểu đồ minh họa cơ cấu vụ án và hình phạt được trình bày rõ ràng. Đề tài mang giá trị tham khảo cho sinh viên luật, người nghiên cứu pháp luật hình sự. Công trình góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về loại tội phạm phổ biến này.

1.1. Bối cảnh và tính cấp thiết của đề tài

Tội trộm cắp tài sản là loại tội phạm xâm phạm sở hữu phổ biến nhất hiện nay. Tình hình tội phạm này diễn biến phức tạp tại các đô thị lớn. Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội không phải ngoại lệ. Số vụ án tăng theo từng năm, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi. Thực tiễn xét xử còn gặp vướng mắc trong định tội danh và quyết định hình phạt. Nhiều quy định pháp luật cần được làm rõ để áp dụng thống nhất. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài mang tính cấp thiết cao. Khóa luận góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho cơ quan tố tụng.

1.2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Khóa luận hướng đến làm rõ lý luận và pháp luật về tội trộm cắp tài sản. Tác giả phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại Quận Hai Bà Trưng. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn 2016 đến 2019. Đối tượng nghiên cứu bao gồm quy định Bộ luật Hình sự và số liệu xét xử thực tế. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích luật học và thống kê số liệu. Kết quả nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật. Đồng thời, khóa luận đưa ra kiến nghị nâng cao hiệu quả xét xử tại địa phương.

II. Phân tích cấu thành tội trộm cắp tài sản trong khóa luận

Cấu thành tội trộm cắp tài sản gồm bốn yếu tố cơ bản. Khách thể tội phạm là quyền sở hữu tài sản hợp pháp. Mặt khách quan thể hiện qua hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản. Đối tượng tác động phải là tài sản đang nằm trong sự quản lý của chủ sở hữu. Thủ đoạn phạm tội mang tính lén lút, người phạm tội che giấu hành vi với chủ tài sản. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm. Khóa luận phân tích nhiều tình huống thực tế phát sinh trong xét xử. Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên cần xem xét theo phong tục, tập quán địa phương. Tình tiết tăng nặng như tái phạm nguy hiểm cũng được phân tích kỹ. Hành vi chống trả để tẩu thoát sau khi trộm cắp bị xử lý theo khung hình phạt riêng. Tác giả chỉ ra sự khác biệt giữa tội trộm cắp tài sản và các tội xâm phạm sở hữu khác. Phần phân tích này là nền tảng cho chương thực tiễn xét xử.

2.1. Dấu hiệu pháp lý và đối tượng tác động

Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản thuộc quyền quản lý của người khác. Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Việc xác định tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có thuộc đối tượng tác động hay không cần căn cứ phong tục, tập quán. Gia súc, gia cầm thất lạc là trường hợp đặc biệt cần xem xét kỹ. Mục đích chiếm đoạt tài sản là yếu tố cấu thành bắt buộc. Tài sản trộm cắp có thể là phương tiện sống chính của người bị hại. Việc mất tài sản này gây khó khăn nghiêm trọng cho gia đình nạn nhân.

2.2. Thủ đoạn phạm tội và tình tiết tăng nặng

Thủ đoạn của tội trộm cắp tài sản mang tính lén lút rõ rệt. Người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt mà chủ tài sản không hay biết. Trường hợp bị phát hiện và chống trả để tẩu thoát bị xử lý theo Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015. Tình tiết tái phạm nguy hiểm quy định tại Khoản 2 Điều 53 là tình tiết tăng nặng quan trọng. Khung hình phạt tăng nặng theo Khoản 3, Khoản 4 Điều 173 áp dụng khi tài sản chiếm đoạt có giá trị lớn. Việc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để phạm tội cũng là tình tiết định khung tăng nặng.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trộm cắp tài sản

Khóa luận đề xuất nhiều giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hình sự. Trước hết, cần sửa đổi hướng dẫn xác định tài sản bị đánh rơi, bỏ quên. Quy định cần rõ ràng hơn về căn cứ phong tục, tập quán khi định tội danh. Thứ hai, cần thống nhất áp dụng tình tiết hành hung để tẩu thoát trong thực tiễn xét xử. Nhiều vụ án còn nhầm lẫn giữa tội trộm cắp và tội cướp giật tài sản. Thứ ba, cần tăng cường đào tạo nghiệp vụ cho thẩm phán, kiểm sát viên tại Quận Hai Bà Trưng. Việc định tội danh chính xác giúp tránh oan sai và bỏ lọt tội phạm. Ngoài ra, khóa luận đề xuất tăng cường công tác phòng ngừa tội phạm tại địa bàn dân cư. Cơ quan công an cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương. Giải pháp tuyên truyền pháp luật cũng được nhấn mạnh trong khóa luận. Các giải pháp này hướng đến giảm thiểu số vụ trộm cắp tài sản trong thời gian tới.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự

Pháp luật hình sự cần bổ sung hướng dẫn cụ thể về tài sản bị đánh rơi, bỏ quên. Quy định hiện hành còn chung chung, gây khó khăn khi định tội danh. Cần ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết tình tiết tăng nặng. Việc phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp giật, công nhiên chiếm đoạt cần rõ ràng hơn. Khung hình phạt theo giá trị tài sản chiếm đoạt cần điều chỉnh phù hợp thực tế giá cả. Các quy định này giúp tòa án áp dụng thống nhất trên toàn quốc.

3.2. Nâng cao hiệu quả xét xử tại địa phương

Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng cần nâng cao chất lượng xét xử các vụ án trộm cắp tài sản. Thẩm phán cần được bồi dưỡng nghiệp vụ định tội danh thường xuyên. Công tác thu thập chứng cứ cần chặt chẽ, tránh bỏ lọt tội phạm. Sự phối hợp giữa công an, viện kiểm sát và tòa án cần chặt chẽ hơn. Việc công khai bản án giúp tăng tính minh bạch, răn đe tội phạm. Địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật đến người dân, đặc biệt khu vực đông dân cư.

IV. Kết luận và ứng dụng khóa luận Kim Anh trong thực tiễn

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Kim Anh cung cấp cái nhìn toàn diện về tội trộm cắp tài sản. Công trình kết hợp lý luận pháp luật và thực tiễn xét xử tại Quận Hai Bà Trưng. Số liệu giai đoạn 2016-2019 cho thấy tội phạm này vẫn diễn biến phức tạp. Các giải pháp đề xuất mang tính thực tiễn cao, có thể áp dụng ngay. Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên ngành Luật. Cơ quan tố tụng địa phương có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để cải thiện công tác xét xử. Công trình cũng góp phần vào quá trình hoàn thiện Bộ luật Hình sự Việt Nam. Việc so sánh pháp luật Việt Nam với các quốc gia khác mở ra hướng nghiên cứu mới. Khóa luận khẳng định giá trị của nghiên cứu luật học gắn với thực tiễn địa phương. Đây là đóng góp thiết thực cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu.

4.1. Giá trị khoa học của khóa luận

Khóa luận hệ thống hóa lý luận về tội trộm cắp tài sản một cách khoa học. Tác giả phân tích sâu cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự 2015. Việc so sánh với pháp luật nước ngoài làm phong phú thêm góc nhìn nghiên cứu. Số liệu thực tiễn tại Quận Hai Bà Trưng tăng tính thuyết phục cho các luận điểm. Công trình đáp ứng yêu cầu về tính khoa học, khách quan của một khóa luận tốt nghiệp ngành Luật.

4.2. Khả năng ứng dụng vào thực tiễn xét xử

Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng trực tiếp vào công tác xét xử tại địa phương. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật giúp giảm thiểu sai sót khi định tội danh. Cơ quan công an có thể tham khảo để nâng cao hiệu quả điều tra. Sinh viên luật có thể sử dụng khóa luận làm tài liệu học tập, nghiên cứu chuyên sâu. Công trình góp phần thiết thực vào công cuộc phòng chống tội phạm trộm cắp tài sản hiện nay.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm về tội trộm cắp tài sản Tội phạm là hiện tượng xã hội mang tính tiêu cực, xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người. Đến khi nhà nước và pháp luật ra đời, tội phạm mới được định danh và trở thành vấn đề xuyên suốt mà các nhà nước và pháp luật phải quan tâm 3.

Về thực chất, tội phạm là một hiện tượng có tính chất pháp lý. Tuy nhiên, đây lại là một hiện tượng có tính chất pháp lý tiêu cực. Tội phạm luôn chứa đựng đặc tính chống lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, làm ảnh hưởng tiêu cực tới lợi ích chung của cộng đồng, xâm phạm tới trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến tự do và các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân. Tội phạm là hiện tượng xã hội tồn tại trong mọi quốc gia, được phản ánh trong luật hình sự vì trái với chuẩn mực xã hội ở mức cao nhất so với các hiện tượng lệch chuẩn khác.

Nó là hiện tượng xã hội pháp lí. Đồng thời, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu về khái niệm tội phạm có nhiều cách lý giải khác nhau tùy thuộc vào góc độ và mục đích tiếp cận. Dưới đây là một số khái niệm được tác giả tập hợp: Larry J.Siegel đã đưa ra khái niệm tội phạm như sau: “Tội phạm là một hành vi vi phạm các nguyên tắc xã hội được giải thích và quy định trong một đạo luật hình sự do những người nắm giữ quyền lực chính trị và xã hội tạo ra.

Những cá nhân vi phạm các nguyên tắc này là đối tượng sẽ bị trừng phạt bởi các cơ quan có thẩm quyền,…”4. 3 Vũ Thị Thùy Dung, Tội trộm cắp tài sản - So sánh giữa Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật hình sự Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, năm 2013. Siegel, Gregory P Brown, Ron Hoffman, April 2, 2012. TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.

TS Lê Thị Sơn trong cuốn Từ điển pháp luật Hình sự thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt”5. Theo từ điển Luật học, tội phạm được xác định là: “Vụ phạm pháp coi là một tội: Một tội phạm nghiêm trọng”6. Còn theo giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, tập 1 của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra định nghĩa: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt”. Điều 8 BLHS năm 2015 cũng đã đưa ra khái niệm tội phạm và khái niệm này cũng cơ bản được tiếp nhận trong khoa học Luật hình sự.

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.” Khoản 2 Điều 2 BLHS năm 2015 đã quy định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam có quy định về cơ sở trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, đồng thời đây chính là “tuyên bố” mang tính nền tảng, tiền đề để các nhà làm luật quy định những vấn đề khác trong nội dung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân của BLHS năm 2015. Có thể thấy các định nghĩa trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về tội phạm và nói lên đúng tính chất của tội phạm. Để đưa ra một khái niệm đầy đủ từ các định nghĩa trên, theo tác giả thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý), xâm phạm đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự ghi nhận, bảo vệ và phải bị xử lý hình sự”.

TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS. TS Lê Thị Sơn (2006), Từ điển pháp luật hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 6 Bộ tư pháp viện khoa học pháp lí, Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 12 Khái niệm tội phạm phản ánh những đặc điểm cơ bản: tội phạm là hành nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi và phải xâm phạm đến các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ.

Từ khái niệm đã phân tích ở trên, tội phạm có các dấu hiệu pháp lý cũng là các yếu tố cấu thành tội phạm đó là: Thứ nhất, về khách thể của tội phạm. Đây là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, được coi là khách thể, là những quan hệ xã hội đã được xác định trong Điều 8 của Bộ luật hình sự năm 2015. Gồm: (1) Khách thể chung của tội phạm: Là tổng hợp các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tất cả các tội phạm xâm hại.

Khách thể chung của tội phạm được xác định trong Điều 8 của Bộ luật hình sự. Đó là: Độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức: tính mạng, sức khỏe nhân phẩm danh dự, tự do, tài sản các quyền cũng như lợi ích hợp pháp khác của công dân,… (2) Khách thể loại của tội phạm: là những quan hệ xã hội có cùng tính chất được một nhóm quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một nhóm tội phạm xâm hại. Khách thể loại là cơ sở để hệ thống hóa các quy phạm trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự thành từng chương. (3) Khách thể trực tiếp của tội phạm: Là quan hệ xã hội cụ thể, bị loại tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại.

Khách thể trực tiếp của tội phạm trước hết phải là những quan hệ xã hội bị tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại. Có loại tội phạm có thể xâm phạm trực tiếp nhiều quan hệ xã hội nhưng không phải tất cả quan hệ xã hội bị xâm hại đều được coi là khách thể trực tiếp. Thứ hai, về chủ thể của tội phạm. Chủ thể của tội phạm có thể là con người cụ thể hoặc pháp nhân thương mại.

Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể: Tội phạm theo luật hình sự Việt Nam phải có tính có lỗi. Vì vậy, chỉ những người có điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới có thể là chủ thể của tội phạm, cụ thể phải có năng lực TNHS. Đó là khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của mình và năng lực điều khiển hành vi. Năng lực TNHS là điều kiện cần thiết để có thể xác định con người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Chỉ người có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể là chủ thể của tội phạm. Chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại: Thời điểm trước ngày 1/1/2018 (thời điểm BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực) thì chủ thể của tội phạm chỉ có thể là con người. Để đáp ứng những thay đổi về điều kiện 13 kinh tế - xã hội hiện nay, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định ngoài con người cụ thể thì pháp nhân thương mại có thể là chủ thể của tội phạm. Thứ ba, mặt khách quan của tội phạm.

Đây chính là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan như: Hành vi khách quan của tội phạm, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm; công cụ, phương tiện phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội.Trong đó, hành vi khách quan của tội phạm được hiểu là hành vi trái pháp luật, hành vi được thực hiện dưới dạng hành động hoặc hành vi không hành động mà vi phạm pháp luật; Hậu quả được hiểu là những thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra; mối liên hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả được hiểu là hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả, thiệt hại trên thực tế cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm. Đây chính là những hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội, bao gồm các dấu hiệu: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội. Cụ thể: (1) Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi mà họ đã thực hiện và đối với hậu quả của hành vi đó, thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.

Nội dung cơ bản của lỗi được hợp thành bởi hai yếu tố cơ bản là lý trí và ý chí. Sự kết hợp khác nhau giữa ý thức và ý chí tạo nên các hình thức khác nhau của lỗi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ