Giới thiệu dự án

Bảo vệ quyền sở hữu là một trong những trụ cột nền tảng của hệ thống pháp luật nhà nước pháp quyền, được hiến định trực tiếp tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013: "Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất...". Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam, các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu luôn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu tội phạm hình sự (thường dao động từ 45% đến 60% tổng số vụ án hình sự thụ lý hàng năm tại các đô thị lớn). Trong đó, tội trộm cắp tài sản (TCTS) là tội danh phổ biến nhất, diễn biến phức tạp với thủ đoạn tinh vi.

  • Vấn đề thực tiễn (Problem Statement): Mặc dù Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định cụ thể tội TCTS tại Điều 173, thực tiễn xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân (TAND) Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2019 vẫn gặp nhiều bất cập nghiêm trọng. Các vướng mắc tập trung vào:
    • Sự thiếu vắng định nghĩa định tính chuẩn tắc về hành vi "lén lút" trong văn bản luật thực định.
    • Khó khăn trong việc định giá tài sản khi tang vật bị tiêu hủy, tẩu tán hoặc lời khai giữa bị cáo và bị hại mâu thuẫn.
    • Phân định ranh giới mong manh giữa tình tiết định khung "Hành hung để tẩu thoát" (Điểm đ Khoản 2 Điều 173) và sự chuyển hóa thành "Tội cướp tài sản" (Điều 168).
    • Xử lý hành vi đồng phạm đối với người tiêu thụ tài sản sau thời điểm tội phạm hoàn thành nhưng chưa kết thúc.
  • Mục tiêu dự án nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, cấu thành tội phạm (CTTP) và lịch sử lập pháp về tội TCTS từ năm 1945 đến nay.
    2. Khảo sát, xử lý và phân tích định lượng toàn bộ dữ liệu xét xử tội TCTS tại TAND Quận Hai Bà Trưng từ năm 2016 đến năm 2019.
    3. Phân tích đối sánh quy định pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình sự quốc tế (Liên bang Nga, CHND Trung Hoa, Nhật Bản).
    4. Đề xuất bộ giải pháp lập pháp hoàn thiện Điều 173 BLHS 2015 và xây dựng quy trình chuẩn hóa định tội danh, quyết định hình phạt cho các cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Phương pháp tiếp cận giải pháp: Ứng dụng phương pháp luận duy vật biện chứng Mác - Lênin kết hợp phương pháp nghiên cứu thực chứng án văn (empirical case-law research), phân tích định lượng thống kê tư pháp và phương pháp so sánh luật học (comparative legal methodology).
  • Kết quả kỳ vọng: Thiết lập hệ thống chuẩn mực định tội danh chuẩn xác 100% đối với các vụ án ranh giới; giảm thiểu tỷ lệ án bị sửa/hủy do lỗi áp dụng sai khung hình phạt; tối ưu hóa thời gian tranh tụng và lượng hình.
  • Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
    • Không gian: Địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
    • Thời gian: Số liệu thực tiễn xét xử sơ thẩm giai đoạn 2016 – 2019.
    • Nội dung: Pháp luật hình sự thực định về tội TCTS theo Điều 173 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Nghiên cứu so sánh quy định xử lý hành vi chiếm đoạt lén lút tài sản giữa pháp luật Việt Nam và các hệ thống luật pháp tiêu biểu:

Tiêu chí phân tích Pháp luật Việt Nam (Điều 173 BLHS 2015) Pháp luật Liên bang Nga (Điều 158 BLHS 1996 sđ 2010) Pháp luật Trung Quốc (Điều 264 BLHS 1979 sđ 2005) Pháp luật Nhật Bản (Điều 235 BLHS 1907 sđ 2011)
Định nghĩa hành vi Không có định nghĩa trực tiếp, mô tả qua CTTP Định nghĩa rõ: "Bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác" Nêu tên hành vi, không định nghĩa chi tiết Sử dụng thuật ngữ "Ăn cắp tài sản của người khác"
Định lượng định tội tối thiểu Từ 2.000.000 VNĐ trở lên (hoặc dưới 2 triệu + tiền án/hậu quả) Không định lượng tối thiểu để định tội cơ bản Dùng định tính: "Số lượng tương đối lớn" hoặc trộm nhiều lần Không định lượng giá trị tài sản tối thiểu
Phân hóa khung hình phạt 04 khung hình phạt cụ thể (cao nhất: 20 năm tù) 04 khoản chi tiết, ưu tiên phạt tiền, lao động cải tạo Nhiều bậc hình phạt (Tù có thời hạn, chung thân, tử hình) 01 khung: Phạt tù dưới 10 năm hoặc phạt tiền dưới 50 vạn Yên
Chế tài cao nhất Tù có thời hạn đến 20 năm Tù có thời hạn đến 10 năm Tử hình (trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng) Tù có thời hạn đến 10 năm

Yêu cầu chuẩn hóa quy trình định tội theo mô hình MoSCoW

  • Must Have (Bắt buộc phải có):
    • Tiêu chí xác thực giá trị thiệt hại vật chất theo định lượng luật định (ngưỡng 2.000.000đ, 50.000.000đ, 200.000.000đ, 500.000.000đ).
    • Quy tắc thẩm định 4 yếu tố cấu thành tội phạm: Khách thể (quyền sở hữu), Mặt khách quan (hành vi lén lút + hậu quả), Chủ thể (người từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi đối với Khoản 3, Khoản 4), Mặt chủ quan (lỗi cố ý trực tiếp, mục đích chiếm đoạt xuất hiện trước hoặc trong khi hành động).
  • Should Have (Nên có): Quy tắc xử lý trường hợp vật chứng không thể thu hồi hoặc bị tiêu hủy dựa trên giá trị thị trường tại thời điểm phạm tội theo quy định tại Điều 105 BLDS 2015.
  • Could Have (Có thể có): Thuật toán tự động hóa hỗ trợ Thẩm phán tra cứu và tính toán tái phạm/tái phạm nguy hiểm theo Điều 53 BLHS.
  • Won't Have (Không áp dụng): Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại (theo Điều 76 BLHS 2015, pháp nhân không phải là chủ thể của tội TCTS).

Thiết kế hệ thống: Khung logic định tội danh và quyết định hình phạt

Thuật toán logic định tội danh (Legal Decision Algorithm)

# Statutory Logic Engine for Article 173 Penal Code 2015 (amended 2017)

def qualify_theft_crime(case_facts):
    """
    case_facts: dict containing legal parameters of the act
    Returns: Qualification result and penalty frame
    """
    # Step 1: Check Subject
    if case_facts['age'] < 14 or not case_facts['has_criminal_responsibility_capacity']:
        return {"crime": None, "reason": "Chưa đủ tuổi chịu TNHS hoặc mất năng lực nhận thức"}
        
    # Step 2: Check Objective and Subjective elements
    if not (case_facts['is_stealthy_action'] and case_facts['mens_rea'] == 'DIRECT_INTENT' and case_facts['motive_to_appropriate']):
        return {"crime": "Other/None", "reason": "Không thỏa mãn dấu hiệu lén lút hoặc lỗi cố ý trực tiếp chiếm đoạt"}
        
    property_value = case_facts['property_value_vnd']
    special_conditions = case_facts.get('special_conditions', [])
    
    # Step 3: Base qualification (Khoản 1 Điều 173)
    is_base_qualified = False
    if property_value >= 2_000_000:
        is_base_qualified = True
    elif any(cond in special_conditions for cond in [
        'ADMINISTRATIVE_SANCTIONED', 'PRIOR_CONVICTION_UNEXPUNGED', 
        'BAD_SECURITY_IMPACT', 'PRIMARY_LIVELIHOOD_MEANS', 'RELIC_ANTIQUE'
    ]):
        is_base_qualified = True
        
    if not is_base_qualified:
        return {"crime": "Administrative Violation", "sanction": "Nghị định 144/2021/NĐ-CP"}

    # Step 4: Determine Aggravated Penalty Frames (Khoản 2, 3, 4)
    if property_value >= 500_000_000 or 'WAR_EMERGENCY_CONTEXT' in special_conditions:
        if case_facts['age'] >= 14:
            return {"crime": "Tội trộm cắp tài sản", "clause": 4, "penalty": "Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm"}
            
    if property_value >= 200_000_000 or 'DISASTER_EPIDEMIC_CONTEXT' in special_conditions:
        if case_facts['age'] >= 14:
            return {"crime": "Tội trộm cắp tài sản", "clause": 3, "penalty": "Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm"}
            
    clause_2_flags = ['ORGANIZED', 'PROFESSIONAL', 'DECEITFUL_DANGEROUS_TRICKS', 
                      'VIOLENCE_TO_ESCAPE', 'NATIONAL_TREASURE', 'DANGEROUS_RECIDIVISM']
    if property_value >= 50_000_000 or any(flag in special_conditions for flag in clause_2_flags):
        if case_facts['age'] >= 16:
            return {"crime": "Tội trộm cắp tài sản", "clause": 2, "penalty": "Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm"}
            
    # Default Base Frame
    if case_facts['age'] >= 16:
        return {"crime": "Tội trộm cắp tài sản", "clause": 1, "penalty": "Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm"}
        
    return {"crime": None, "reason": "Người từ 14 đến dưới 16 tuổi không chịu TNHS ở Khoản 1 và Khoản 2"}

Methodology (Phương pháp luận và quy trình thực hiện)

Dự án áp dụng quy trình kiểm định pháp lý đa tầng theo 4 mốc tiến độ chính:

  • Giai đoạn 1 (Milestone 1 - Rà soát thể chế): Pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan: BLHS 2015, BLTTHS 2015, BLDS 2015, Nghị quyết 02/1988/HĐTP, Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP và Thông tư liên tịch 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP.
  • Giai đoạn 2 (Milestone 2 - Trích xuất dữ liệu thực tế): Thu thập toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm (HSST) về tội TCTS tại TAND Quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2016 – 2019; chuẩn hóa dữ liệu thống kê theo giá trị tài sản, nhân thân bị cáo, khung điều khoản áp dụng và loại hình phạt.
  • Giai đoạn 3 (Milestone 3 - Đánh giá rủi ro tư pháp): Nhận diện các điểm sai lệch trong phân định ranh giới tội danh (giữa TCTS và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm, Công nhiên chiếm đoạt, Cướp giật tài sản).
  • Giai đoạn 4 (Milestone 4 - Tổng hợp giải pháp & Kiến nghị): Xây dựng báo cáo kiến nghị lập pháp trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và TAND Tối cao hướng dẫn thống nhất nghiệp vụ.

Implementation và kết quả

Quá trình phân tích thực chứng tại TAND Quận Hai Bà Trưng (2016 - 2019)

Quận Hai Bà Trưng là trung tâm thương mại dịch vụ sầm uất của Thủ đô với mật độ dân cư cao, nhiều bệnh viện lớn (Bạch Mai, Thanh Nhàn), trường đại học và chợ đầu mối. Điều này tạo điều kiện phát sinh các loại tội phạm chiếm đoạt tài sản với các phương thức:

  1. Lợi dụng sơ hở tại các khu vực công cộng, bệnh viện, nhà trọ để cạy khóa, trộm xe máy và thiết bị điện tử.
  2. Dàn cảnh, chen lấn xô đẩy tại các điểm trung chuyển xe buýt, chợ dân sinh để móc túi chiếm đoạt tiền và điện thoại.
  3. Giả dạng nhân viên giao hàng, người quen vào các cơ quan, văn phòng lợi dụng lúc vắng người để chiếm đoạt tài sản.

Kết quả thống kê và đối chiếu dữ liệu thực tiễn

Cơ cấu các vụ án TCTS tại TAND Quận Hai Bà Trưng (2016 - 2019)

Năm thụ lý / xét xử Tổng số vụ án HS sơ thẩm Số vụ án TCTS Tỷ lệ TCTS / Tổng số án (%) Số bị cáo phạm tội TCTS
2016 215 78 36.28% 89
2017 228 84 36.84% 96
2018 240 91 37.92% 104
2019 235 86 36.60% 98
Tổng số (4 năm) 918 339 36.93% 387

Nhận xét: Tội TCTS liên tục chiếm trên 36% tổng số án hình sự sơ thẩm tại địa bàn, là loại tội phạm xâm phạm quyền sở hữu có tần suất xuất hiện cao nhất.

Cơ cấu quyết định hình phạt tội TCTS tại TAND Quận Hai Bà Trưng (2016 - 2019)

Loại hình phạt áp dụng Số lượng bị cáo Tỷ lệ phần trăm (%)
Cải tạo không giam giữ (dưới 03 năm) 18 4.65%
Phạt tù dưới 03 năm (Khoản 1 Điều 173) 248 64.08%
Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (Khoản 2 Điều 173) 112 28.94%
Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (Khoản 3 Điều 173) 9 2.33%
Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm (Khoản 4 Điều 173) 0 0.00%
Tổng cộng 387 100.00%

Phân tích chuyên sâu các vướng mắc qua thực tiễn xét xử

  1. Phân biệt "Hành hung để tẩu thoát" và "Tội cướp tài sản":
    • Thực tiễn: Bị cáo sau khi lén lút lấy trộm xe máy, khi bị quần chúng phát hiện hô hoán và đuổi bắt, bị cáo đã dùng dao đâm người truy bắt bị thương để chạy trốn (không còn giữ tài sản). TAND Quận Hai Bà Trưng áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 173 là chuẩn xác.
    • Quy chuẩn phân định: Nếu việc dùng vũ lực nhằm mục đích giữ bằng được tài sản vừa chiếm đoạt -> Hành vi chuyển hóa thành Tội cướp tài sản (Điều 168). Nếu dùng vũ lực duy nhất nhằm mục đích thoát thân -> Áp dụng tình tiết tăng nặng "hành hung để tẩu thoát" tại Điều 173.
  2. Định giá tài sản trong các trường hợp đặc thù: Tình trạng định giá tài sản cũ đã qua sử dụng, điện thoại không thu hồi được gặp sự chênh lệch lớn giữa Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự và yêu cầu của đương sự, dẫn đến việc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần (chiếm khoảng 8.5% số vụ án thụ lý).

Đổi mới và đóng góp

  • Đóng góp về mặt lý luận:
    • Hoàn thiện và xây dựng khái niệm khoa học chuẩn xác về Tội trộm cắp tài sản: "Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, đã bị xử lý hành chính/hình sự mà chưa xóa án tích, hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính, di vật, cổ vật".
    • Làm sáng tỏ bản chất pháp lý của yếu tố "lén lút" – mang tính chất song phương (chủ quan người phạm tội luôn có ý thức che giấu hành vi với chủ sở hữu/người quản lý).
  • Đổi mới phương pháp áp dụng thực tiễn:
    • Thiết lập bảng tiêu chí phân định trực tiếp giữa tội TCTS với 04 tội danh lân cận: Cướp tài sản (Điều 168), Cướp giật tài sản (Điều 171), Công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174).
    • Đề xuất quy tắc xử lý tài sản vô chủ, gia súc gia cầm thả rông dựa trên tập quán bản địa và Điều 105 BLDS 2015, tránh hình sự hóa quan hệ dân sự.

Ứng dụng thực tế và triển khai

Giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng trên địa bàn

  1. Kiến nghị sửa đổi Điều 173 BLHS 2015: Bổ sung định nghĩa trực tiếp hành vi "lén lút" vào phần mở đầu Khoản 1 Điều 173 nhằm triệt tiêu các cách giải thích tùy nghi giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
  2. Ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC:
    • Hướng dẫn cụ thể cách tính tổng giá trị tài sản trong trường hợp trộm cắp nhiều lần, mỗi lần dưới 2 triệu đồng nhưng tổng giá trị trên 2 triệu đồng.
    • Xác định rõ tiêu chuẩn "tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ" thông qua mức thu nhập trung bình tại địa phương.
  3. Quy trình phối hợp liên ngành (Công an - Viện kiểm sát - Tòa án) cấp quận:
    • Rút ngắn thời gian thành lập Hội đồng định giá tài sản xuống dưới 07 ngày làm việc kể từ khi khởi tố vụ án.
    • Số hóa hệ thống quản lý tiền án tiền sự nhằm phát hiện ngay lập tức tình tiết "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm".

Hạn chế và hướng phát triển

  • Hạn chế tồn tại:
    • Dữ liệu nghiên cứu thực chứng tập trung trong giai đoạn 2016 – 2019 tại một quận nội thành (Hai Bà Trưng), chưa phản ánh toàn diện tính chất tội phạm trộm cắp tại địa bàn nông thôn hoặc vùng giáp ranh phức tạp.
    • Chưa đi sâu vào các hình thái trộm cắp tài sản phi truyền thống như: trộm cắp dữ liệu số, tài sản ảo trên không gian mạng (thuộc phạm vi giao thoa giữa Điều 173 và Điều 290 BLHS).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu tội phạm trộm cắp tài sản công nghệ cao, trộm cắp thông tin tài khoản ngân hàng và định danh số trong kỷ nguyên chuyển đổi số quốc gia.

Đối tượng hưởng lợi

  • Sinh viên & Giảng viên ngành Luật: Cung cấp nguồn học liệu án văn thực tế, phương pháp định tội danh và số liệu phân tích khoa học cho môn Luật Hình sự Việt Nam.
  • Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân & Kiểm sát viên: Bộ cẩm nang và lưu đồ thuật toán hỗ trợ quyết định hình phạt chính xác, hạn chế tình trạng án bị hủy hoặc cải sửa do nhận định sai khung khoản.
  • Luật sư & Trợ giúp viên pháp lý: Cung cấp căn cứ lý luận sắc bén phục vụ kỹ năng bào chữa, phân tích chuyển hóa tội danh và xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
  • Cơ quan điều tra Công an Quận/Huyện: Nắm vững quy chuẩn thu thập chứng cứ, định giá tài sản ngay từ giai đoạn khám nghiệm hiện trường và lấy lời khai ban đầu.

Câu hỏi thường gặp

1. Dấu hiệu cốt lõi nào giúp phân biệt tội Trộm cắp tài sản và tội Cướp giật tài sản?

Dấu hiệu cốt lõi nằm ở phương thức thực hiện hành vi khách quan:

  • Tội trộm cắp tài sản (Điều 173): Thực hiện bằng thủ đoạn lén lút, bí mật che giấu hành vi đối với chủ tài sản nhằm tránh sự phát hiện và ngăn cản.
  • Tội cướp giật tài sản (Điều 171): Thực hiện hành vi công khai, lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản để nhanh chóng giật lấy tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát mà không dùng vũ lực đe dọa trực tiếp đến tính mạng.

2. Trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 VNĐ có thể bị xử lý hình sự trong trường hợp nào?

Theo Khoản 1 Điều 173 BLHS 2015, người trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 VNĐ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong 5 trường hợp sau:

  1. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.
  2. Đã bị kết án về tội trộm cắp hoặc một trong các tội xâm phạm sở hữu (Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175, 290) chưa được xóa án tích.
  3. Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
  4. Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
  5. Tài sản là di vật, cổ vật.

3. Tình tiết "Hành hung để tẩu thoát" được áp dụng khi nào?

Áp dụng theo Điểm đ Khoản 2 Điều 173 khi người phạm tội sau khi thực hiện hành vi trộm cắp (đã hoặc chưa lấy được tài sản), bị phát hiện và truy bắt thì có hành vi dùng vũ lực chống trả người đuổi bắt (như đấm, đá, dùng hung khí tấn công) với mục đích duy nhất là để chạy trốn. Nếu dùng vũ lực nhằm mục đích quyết giữ bằng được tài sản thì hành vi sẽ chuyển hóa thành Tội cướp tài sản (Điều 168).

4. Pháp nhân thương mại có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản không?

Không. Theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 33 tội danh cụ thể thuộc các chương kinh tế, môi trường và an ninh. Tội trộm cắp tài sản (Điều 173) không thuộc danh mục này, do đó chủ thể của tội TCTS chỉ có thể là cá nhân (thể nhân).

5. Căn cứ nào để xác định tình tiết "Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" đối với tội TCTS?

Theo hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP của TAND Tối cao, tình tiết này được áp dụng khi thỏa mãn đầy đủ 2 điều kiện:

  • Cố ý phạm tội trộm cắp từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị xử lý hay chưa, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xóa án tích).
  • Người phạm tội lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn thu nhập chính.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội" đã giải quyết một cách khoa học, toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử tội danh quy định tại Điều 173 BLHS 2015. Thông qua khảo sát 339 vụ án với 387 bị cáo trong giai đoạn 2016 - 2019, công trình đã chỉ rõ thực trạng áp dụng pháp luật, những nút thắt trong định tội danh và lượng hình của TAND Quận Hai Bà Trưng, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp lập pháp, tư pháp mang tính khả thi cao.

Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu, cán bộ thực thi pháp luật và sinh viên chuyên ngành luật, đóng góp tích cực vào tiến trình cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trong tình hình mới. Các đơn vị tư pháp cơ sở có thể ứng dụng trực tiếp các đề xuất của khóa luận để chuẩn hóa quy trình tranh tụng và xét xử tại địa phương.