Chương I sẽ cung cấp những kiến thức, thông tin mang tính cơ sở sẽ là nền tảng để nghiên cứu tốt những chương tiếp theo của đề tài này.1 Định nghĩa phạm nhân Theo Hướng dẫn về án lệ của Công ước Châu Âu về Nhân quyền3, thuật ngữ “prisoner” (tù nhân) chủ yếu bao gồm những người đã bị cơ quan tư pháp giam giữ hoặc những người đã bị tước quyền tự do sau khi bị kết án nhưng cũng có thể ám chỉ tất cả những người bị giam giữ vì bất kỳ lý do nào khác trong nhà tù4. Ngoài ra trong một chuyên ngành đào tạo của LQH về Quyền con người trong hành chính tư pháp5, tại Chương về Các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về bảo vệ những người bị tước quyền tự do, thuật ngữ “prisoners” (tù nhân) được hiểu tương tự với “imprisoned person” (người bị bỏ tù)6. Phần thuật ngữ của Tập hợp các Nguyên tắc về Bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào7 định nghĩa “imprisoned person” là bất kỳ người nào bị tước quyền tự do cá nhân do bị kết án 3 Tên tiếng anh: Guide on the case-law of the European Convention on Human Rights: Hướng dẫn này là một phần của loạt Hướng dẫn về Án lệ do Tòa án Nhân quyền Châu Âu xuất bản, phân tích và tổng hợp các án lệ theo các Điều khoản khác nhau của Công ước Châu Âu về Nhân quyền liên quan đến quyền của tù nhân. 4 Tòa án Nhân quyền Châu Âu (2022), Guide on the case-law of the European Convention on Human Rights, (Dịch: Hướng dẫn về án lệ của Công ước Châu Âu về Nhân quyền), tr.
5 Professional Training series No. 9 Human rights in the Administration of justice: A Manual on Human Rights for Judges, Prosecutors and Lawyers (dịch: Chuyên ngành đào tạo chuyên nghiệp số 9 về Quyền con người trong Hành chính tư pháp: Sách hướng dẫn về Quyền con người cho thẩm phán, công tố viên và luật sư). 6 United Nation (2003), “Professional Training series No. 9 Human rights in the Administration of justice: A Manual on Human Rights for Judges, Prosecutors and Lawyers”, https://www.org/sites/default/files/Documents/Publications/training9Titleen.pdf, truy cập ngày 15/05/2022.
7 Tên tiếng anh: Body of Principles for the Protection of All Persons under Any Form of Detention or Imprisonment. Được thông qua ngày 9/12/1988 bởi Nghị quyết Đại hội đồng 43/173. 9 về một hành vi phạm tội. Nhìn chung, thuật ngữ prisoner – tù nhân được các văn bản pháp luật quốc tế định nghĩa gần như nhau, đây là từ dùng để chỉ những người bị cơ quan nhà nước giam giữ sau khi đã bị kết án vì một hành vi phạm tội do mình gây ra.
Khái niệm này đồng thời cũng nằm trong nội hàm khái niệm “những người bị tước tự do” (persons deprived of their liberty)8. Hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới cũng có định nghĩa tù nhân giống luật quốc tế. Ví dụ như tại phần 1 của Đạo luật An ninh Nhà tù (Prison Security Act) năm 1992 của Nghị viện Vương quốc Anh có định nghĩa “tù nhân là bất kỳ người nào trong thời gian ở trong nhà tù do bất kỳ yêu cầu nào do tòa án đưa ra hoặc người đó bị giam giữ hợp pháp”. Việt Nam không có quy định về “tù nhân” trong các văn bản pháp luật.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học nước ta định nghĩa ngắn gọn “tù nhân” là người bị cầm tù. Tuy nhiên trong thuật ngữ pháp lí hiện hành, các nhà làm luật lại đưa ra một thuật ngữ khác chính là “phạm nhân”. Theo quy định tại Luật THAHS năm 2019 định nghĩa phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân9. Theo định nghĩa này, phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù trong trường hợp họ được xác định là “người phạm tội” thông qua các trình tự, thủ tục pháp lý do cơ quan nhà nước quy định.
Phạm nhân là thuật ngữ sẽ luôn gắng liền với hình phạt tù. “Phạm nhân” theo định nghĩa của luật Việt Nam tương ứng về mặt ngữ nghĩa “tù nhân” – prisoner trong các văn bản quốc tế bởi đều chỉ những người đang chấp hành án, bị giam giữ ở các trại giam. Trong hệ thống hình phạt dành cho người phạm tội ở nước ta, hình phạt tù đóng một vị trí và vai trò rất quan trọng, do đó phạm nhân cũng là một đối tượng quan trọng của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam. Với mục đích là trừng phạt, răn đe, làm mất khả năng phạm tội của người phạm tội và phục hồi nhân phẩm, hình phạt tù ngày càng cho thấy được vai trò của mình so với những hình phạt khác dành cho người phạm tội.
Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao, mặc dù trong hệ thống hình phạt nước ta có 07 loại hình phạt chính10, nhưng hàng năm tỷ lệ người phạm tội bị kết án phạt tù có thời hạn 8 Theo Các Nguyên tắc và Thực tiễn Tốt nhất về Bảo vệ Người bị tước quyền Tự do ở Châu Mỹ định nghĩa thì “tước quyền tự do” có nghĩa là: “Bất kỳ hình thức giam giữ, bỏ tù, thể chế hóa, hoặc giam giữ một người trong một cơ sở công cộng hoặc tư nhân mà người đó không được phép rời khỏi tùy ý, theo lệnh hoặc theo thực tế sự kiểm soát của cơ quan tư pháp, hành chính hoặc bất kỳ cơ quan nào khác, vì lý do hỗ trợ nhân đạo, điều trị, giám hộ, bảo vệ, hoặc vì tội ác và vi phạm pháp luật”. 9 Khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. 10 Bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. 10 chiếm tỷ lệ lớn nhất trong thực tiễn xét xử11.
Hình phạt tù hiện nay ở nước ta có hai loại đó là tù có thời hạn và hình phạt tù không thời hạn. Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt tù có khoảng thời gian xác định, khoảng thời gian này là từ 3 tháng đến 20 năm12. Còn hình phạt tù không thời hạn còn được gọi là hình phạt tù chung thân, đây là hình phạt tù được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình13. Như vậy, phạm nhân cũng sẽ bao gồm phạm nhân tù có thời hạn và phạm nhân tù chung thân.
Phân loại phạm nhân. Mỗi trại giam thường có nhiều loại phạm nhân và các tội phạm không giống nhau. Bên cạnh đó, mỗi phạm nhân còn có thể khác nhau về nhiều yếu tố như: xuất thân, vị trí trong xã hội, công việc, độ tuổi… Mặc dù họ không giống nhau nhưng cách đối xử của cơ quan nhà nước dành cho họ thường không có quá nhiều sự phân biệt. Theo quy định ở Các Nguyên tắc Cơ bản về Đối xử với Tù nhân năm 199014, các tù nhân sẽ không có sự phân biệt đối xử vì lý do chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hoặc xã hội, tài sản, nơi sinh hoặc tình trạng khác.
Điều này cũng giống gần như hoàn toàn so với Điều 1415 của Đạo luật Nhân quyền 1998 (The Human Rights Act). Một số án lệ liên quan đến quyền này đã chỉ ra rằng thuật ngữ “tình trạng khác” bao gồm khuynh hướng tình dục, tình trạng hôn nhân, tư cách thành viên công đoàn, tình trạng chuyển đổi giới tính, tuổi tác hoặc các khuyết tật16. Tuy nhiên trong hệ thống pháp luật của đa số các quốc gia trên thế giới vẫn tồn tại sự phân loại phạm nhân dựa trên những đặc điểm tinh thần và thể chất của họ. Mục đích là để tách biệt những phạm nhân có khả năng gây ảnh hưởng xấu cho phần còn lại và chia tách họ để tạo điều kiện cho họ cải tạo tốt nhất.
Theo Quy tắc 11 của Các quy tắc tối thiểu tiêu chuẩn của Liên hợp quốc về đối xử với tù nhân – Quy tắc 11 Nguyễn Thị Hảo (2017), “Hình phạt tù có thời hạn – Một số kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Nghề luật, Học viện Tư pháp, 2017, Số 2, tr. 12 Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). 13 Điều 39 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). 14 Các Nguyên tắc Cơ bản về Đối xử với Tù nhân ((Basic Principles for the Treatment of Prisoners) đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố bằng nghị quyết 45/111 vào ngày 14 tháng 12 năm 1990).
15 Điều 14 của Đạo luật Nhân quyền 1998 quy định: “Việc thụ hưởng các quyền và tự do quy định trong Công ước Châu Âu về Nhân quyền và Đạo luật Nhân quyền sẽ được bảo đảm mà không có sự phân biệt đối xử trên bất kỳ cơ sở nào như giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hoặc xã hội , liên kết với một dân tộc thiểu số, tài sản, nơi sinh hoặc tình trạng khác”. 16 “Article 14: Protection from discrimination” (Dịch: Điều 14: Bảo vệ khỏi phân biệt đối xử), https://bom.so/5l10sk, truy cập ngày 27/04/2022. 11 Nelson Mandela (viết tắt: NMR), phân loại phạm nhân sẽ dựa trên tuổi tác, giới tính, tiền án, lí do pháp lý cho việc giam giữ và nhu cầu đối xử cần thiết của họ. Nhưng thông thường, sẽ có hai loại đối tượng sẽ được pháp luật dành cho một sự đối đãi đặc biệt hơn.
Đó chính là phụ nữ và người chưa thành niên. Đây là sự phân biệt dựa trên độ tuổi và giới tính. Hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay cũng có sự phân biệt như vậy đối với phạm nhân là nữ và phạm nhân là người dưới 18 tuổi. Nếu phân loại phạm nhân dựa trên độ tuổi, ta cần có những mốc tuổi để phân định.
Về khái niệm “trẻ em”, “trẻ vị thành niên” hay “người dưới 18 tuổi” dành cho phạm nhân, pháp luật quốc tế có nhiều cách sử dụng khác nhau. Trong lĩnh vực Tư pháp hình sự, Quy tắc Bắc Kinh17 có định nghĩa tại Điều 2. Người chưa thành niên là trẻ em (child) hay thanh thiếu niên (young person) mà tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội, theo một phương thức khác với người lớn (adult)”. Theo đó, người chưa thành niên bao gồm trẻ em và thanh thiếu niên được pháp luật quốc gia áp dụng một số quy định pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đặc thù khác với người đã thành niên trong quá trình xử lý tội phạm18.
Có hai khái niệm cần được làm rõ theo định nghĩa này, đó chính là trẻ em và thanh thiếu niên.