Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO 1. Khái niệm và đặc điểm của thi hành hình phạt không tước tự do 1. Khái niệm thi hành hình phạt không tước tự do. Với ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, thi hành án hình sự có mối quan hệ hữu cơ với các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Trên cả bình diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy nếu mục đích của thi hành án không đạt được thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trước đó cũng trở nên vô nghĩa. Khi một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước không được thực hiện, pháp luật bị buông lỏng. Bởi vậy, việc đảm bảo việc thi hành của các bản án, quyết định của Tòa án là một yêu cầu tất yếu khách quan. Mặt khác, quá trình thi hành án hình sự là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án trong thực tiễn.
Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành là lúc công lý được thực hiện trong cuộc sống. Thi hành án hình sự có vai trò quan trọng nhằm đảm bảo mục đích của hình phạt là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm giáo dục cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm. Bởi vậy, để thực hiện vai trò đó và đảm bảo pháp chế của hoạt động này thì việc pháp điển hóa toàn bộ các quy định về quá trình thi hành án hình sự là yêu cầu cấp thiết, tránh sự tùy tiện, vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án. Các hình phạt nói chung và các hình phạt chính không tước tự do nói riêng (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ) có vai trò quan trọng không chỉ bảo đảm nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt mà còn thể hiện được rõ nguyên tắc nhân đạo của Luật Hình sự.
Hoạt động thi hành án hình sự đối với các hình phạt không tước tự do bên cạnh những đặc điểm chung còn những đặc 7 thù riêng biệt. Sự khác biệt này xuất phát từ đặc thù của từng loại hình phạt và mục đích, đối tượng áp dụng. Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội, họ được cải tạo, giáo dục, thi hành án trong môi trường sống và hoạt động với các công dân bình thường khác. Tuy nhiên, họ vẫn phải chịu sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi họ làm việc hoặc sinh sống.
Môi trường không giam giữ sẽ có những đặc thù riêng và mỗi hình phạt không tước tự do lại có thêm những đặc thù riêng. Hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của thi hành án hình sự, cũng như bản chất của thi hành các hình phạt không tước tự do. Có quan điểm cho rằng thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử [8,tr. Có quan điểm cho rằng, thi hành các hình phạt không tước tự do là một giai đoạn của quá trình tố tụng và do vậy được điều chỉnh bằng các quy phạm của luật tố tụng hình sự.
Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, thi hành các hình phạt không tước tự do là một hoạt động hành chính – tư pháp hình sự, có những nét đặc thù riêng khác với hoạt động tố tụng hình sự. Một số khác thì coi thi hành các hình phạt không tước tự do như là luật hình sự kéo dài. Việc xác định thi hành các hình phạt không tước tự do là một giai đoạn tố tụng, luật hình sự kéo dài hay là hoạt động hành chính - tư pháp có ý nghĩa quan trọng để làm sáng tỏ bản chất thi hành án hình sự, nói chung và thi hành các hình phạt không tước tự do nói riêng, mà xác định bản chất của thi hành các hình phạt không tước tự do là một trong những vấn đề quan trọng của thi hành các hình phạt không tước tự do. Bởi lẽ, xác định đúng bản chất thi hành các hình phạt không tước tự do có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện, đặc biệt là tạo ra cơ chế quản lý, mô hình tổ chức và hoạt động phù hợp nhằm bảo đảm thi hành các hình phạt không tước tự do.
Như vậy, có thể nêu một cách khái quát định nghĩa về khái niệm thi hành các hình phạt không tước tự do như sau: Thi hành hình phạt không tước tự do là hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật buộc người chấp hành các hình phạt không tước tự do phải tuân thủ, chấp hành các hình phạt mà Tòa án đã tuyên án đối với họ tại phiên tòa, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do họ gây ra nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa họ phạm tội mới, cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội. Đặc điểm của thi hành hình phạt không tước tự do. Xét về bản chất, tố tụng là việc giải quyết các tranh chấp thông qua thủ tục xét xử của Tòa án. Điều đó có nghĩa là khi Tòa án đã đưa ra phán quyết về chân lý của sự việc, về việc phạm tội hay không phạm tội và về hình phạt áp dụng đối với trường hợp này hay trường hợp khác thì quá trình tố tụng cũng kết thúc.
Nói cách khác là tố tụng hình sự xác định có hay không có quan hệ pháp luật hình sự trong trường hợp này. Nếu có quan hệ đó thì quá trình tiếp theo là thực hiện nội dung của pháp luật hình sự: hình phạt hoặc biện pháp tư pháp hình sự. Thực hiện nội dung này không thể tuân theo trình tự, thủ tục tố tụng, vì không có tranh chấp cần xét xử. Ở đây, thực chất là hoạt động quản lý hành chính - tư pháp hình sự.
Bởi lẽ pháp luật thi hành án hình sự có đối tượng điều chỉnh là “lĩnh vực các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành tất cả các loại án hình sự, trong quá trình giáo dục và cải tạo người bị trách nhiệm hình sự hoặc bị án” [62,tr. Điều này được thể hiện ở những điểm sau: Một là, thi hành các hình phạt không tước tự do thực chất là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành. Điều hành và chấp hành là đặc trưng của quản lý hành chính. Tuy nhiên, đây là hoạt động điều hành và chấp hành để thực hiện bản án, quyết định của Tòa án, tức là một nội dung có tính chất tư pháp; Hai là, với tính chất là một hoạt động chấp hành, cho dù căn cứ để thi hành các hình phạt không tước tự do là các bản án và quyết định của Tòa án, nhưng quá trình thi hành các hình phạt không tước tự do được thực hiện với những hoạt động, biện pháp, cách thức không mang tính tố tụng, nghĩa là không thuần túy là luật hình thức, mà ở đây, có thể thấy sự kết hợp giữa luật nội dung với luật hình thức; Ba là, trong quá trình thi hành, các cơ quan thi hành các hình phạt không tước tự do tác động trực tiếp tới đối tượng phải thi hành các bản án không tước tự do để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án; giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, của Nhà nước và xã hội, giáo dục họ trở thành người công dân có ích với xã hội.
Có thể nói đây là phương pháp thuyết phục giáo dục và mệnh lệnh hành chính; 9 Bốn là, việc thi hành các hình phạt không tước tự do, như cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo, được giao cho cơ quan thi hành án dân sự hay cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương thực hiện theo thủ tục quản lý hành chính. Như vậy, có thể nói trong quá trình thi hành án hình sự, pháp luật được áp dụng chủ yếu không phải là pháp luật tố tụng, mà là các quy định pháp luật về hành chính – tư pháp; Năm là, thi hành các hình phạt không tước tự do trước hết là hoạt động của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, quá trình xã hội hóa hoạt động thi hành các hình phạt không tước tự do cũng đang được tiến hành với nhiều triển vọng khả quan. Đây là điểm khác biệt so với hoạt động tố tụng, hoàn toàn mang tính quyền lực tư pháp chặt chẽ.
Tóm lại, thi hành các hình phạt không tước tự do tuy có quan hệ chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng vẫn là một hoạt động có tính đặc thù, và có mục đích trực tiếp riêng biệt. Mọi hoạt động tố tụng hình sự đều dừng lại ở việc phán quyết của Tòa án, còn thi hành án lại được triển khai bắt đầu từ một phán quyết của Tòa án có hiệu lực thi hành nhằm thực hiện các nội dung trong phán quyết của Tòa án. Hơn nữa, các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành các hình phạt không tước tự do tuân theo các nguyên tắc mang đậm tính hành chính hơn là tính tố tụng. Nhưng mặt khác, không thể không thấy mối quan hệ biện chứng giữa quá trình tố tụng hình sự và thi hành các hình phạt không tước tự do: tố tụng là tiền đề, khởi đầu của thi hành các hình phạt không tước tự do; ngược lại, thi hành các hình phạt không tước tự do là thực hiện kết quả tố tụng trong thực tế.
Không có tố tụng thì không có thi hành các hình phạt không tước tự do, nhưng không có thi hành án thì tố tụng trở nên vô nghĩa. Từ những phân tích trên, có thể thấy: thi hành các hình phạt không tước tự do là hoạt động có tính hành chính – tư pháp. Các nguyên tắc của thi hành hình phạt không tước tự do Nguyên tắc được hiểu là tư tưởng, quan điểm cơ bản, đóng vai trò chỉ đạo các hành động cụ thể.