Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN 1.1 Một số vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt tù có thời hạn 1. Khái niệm hình phạt tù có thời hạn Trong BLHS hiện hành biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt. Có nhiều loại biện pháp cưỡng chế khác nhau như xử phạt hành chính, buộc bồi thường thiệt hại về tài sản, xử lý kỷ luật,…nhưng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất vẫn là hình phạt. Đây là chế tài của pháp luật Hình sự, được toà án sử dụng đối với người phạm luật như cá nhân hoặc pháp nhân thương mại.
Ngoài các biện pháp tạo sự công bằng, đảm bảo công lý, giáo dục người phạm tội,… Việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn còn giúp pháp luật Hình sự xử lý người phạm tội và pháp nhân thương mại một cách cụ thể hơn, ngăn ngừa các hành vi phạm tội tích cực hơn và phòng, chống tội phạm một cách hiệu quả hơn. Trong các loại hình phạt, tù có thời hạn là một hình phạt có tính nghiêm khắc. Đó là việc buộc người bị kết án phải chịu hình phạt và chấp hành hình phạt trong một thời hạn nhất định. Người bị kết án bị tước tự do, bị cách ly khỏi môi trường xã hội bình thường một khoảng thời gian nhất định, họ phải lao động cải tạo trong dưới sự quản lý và giám sát của lực lượng cảnh sát.
Chế độ cải tạo cũng như việc chấp hành hình phạt tù có thời hạn được đảm bảo thực hiện theo Luật thi hành án hình sự và nghị định của Chính phủ quy định. Trong luật hình sự Việt Nam thì hình phạt tù có thời hạn tuy là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc là một trong các hình phạt thể hiện rõ nhất chính sách hình sự và nguyên tắc của Nhà nước đối với người phạm tội, nhưng không mang tính chất trả thù hay hành hạ người bị kết án mà có ý 7 nghĩa cải tạo giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội. Trong thời gian người phạm tội chấp chấp hành hình phạt, nếu họ tiến bộ thì được xét giảm mức hình phạt hoặc tha tù trước thời hạn. Bộ luật hình sự còn có những quy định không phải chấp hành hình phạt tù khi đã hết thời hiệu (Điều 60); được miễn chấp hành hình phạt tù (Điều 62); giảm mức hình phạt đã tuyên (Điều 63 hoãn chấp hành hình phạt tù (Điều 67); tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (68); án treo (Điều 65).
Mức quy định của Hình phạt tù có thời hạn có mức cao nhất là 20 năm và mức thấp nhất là 03 tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù sẽ trừ đi thời gian Tạm giữ, tạm giam để ra bản án chính thức. Cứ 01 ngày tạm giam, tạm giữ bằng 01 ngày tù. Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.
Có thể nói đây là hình phạt tước đi quyền tự do của người phạm tội trong khoản thời gian nhất định. Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ của tội sẽ quy ra mức phạt, đối với 1 tội tối thiểu là 03 tháng và tối đa là 20 năm. Tổng các hình phạt không được quá 30 năm đối với các trường hợp phạm nhiều tội cộng lại để ra hình phạt chung. Nhìn chung trên thực tiễn tại toà án nhân dân thì hình phạt tù có thời hạn là hình phạt được áp dụng phổ biến nhất.
Mức tối thiểu và tối đa đối với hình phạt tù có thời hạn được quy định trong các điều luật và trong từng khung hình phạt cụ thể không hoàn toàn giống với mức tối thiểu và tối đa quy định cho loại hình phạt này mà tùy thuộc và từng tội phạm, từng trường hợp phạm tội cụ thẻ mà nhà làm luạt quy định mức tối thiểu và tối đa cho phù hợp. Có tội phạm nhà làm luật chỉ quy định mức tối thiểu là ba tháng và mức tối đa là hai năm, nhưng có tội phạm phải quy định mức tối thiểu là mười năm và tối đa là hai mươi năm. Nếu khung hình phạt quy định mức tối thiểu cao hơn ba tháng tù thì khi quyết định hình phạt Tòa án có thể phạt bị cáo dưới mức tối thiểu của khung hình phạt, nhưng không được thấp hơn ba tháng tù. 8 Người bị kết án bị Tòa án áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nếu trước đó họ đã bị tạm giữ hoặc tạm giam, thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù.
Tóm lại: Hình phạt tù có thời hạn là việc người bị kết án bị tước tự do, cách ly với xã hội và buộc phải lao động cải tạo trong các cơ sở giam giữ dưới sự quản lý và giám sát của cơ quan thi hành án trong một thời hạn nhất định. Đặc điểm của hình phạt tù có thời hạn - Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt chính được quy định hầu hết trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Hình phạt tù có thời hạn được quy định trong hầu hết tất cả các chế tài đối với cấu thành tội phạm và được áp dụng phổ biến trong quá trình Tòa án xét xử tội phạm.“Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định” được quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. - Hay có thể nói, hình phạt tù có thời hạn là hình phạt buộc người phạm tội cách ly khỏi đời sống xã hội và phải cải tạo tại trại giam để có thể thay đổi nhân cách, lối sống của họ.
Hay có thể hiểu một cách ngắn gọn đó là hình phạt tù có thời hạn là việc hạn chế một số quyền tự do của người phạm tội, bị giam giữ tại nhà tạm giam, tạm giữ và buột họ phải tách khỏi cộng đồng xã hội trong một khoảng thời gian nhất định và buộc họ phải chịu nghiêm khắc cải tạo, thực hiện lao động, học nghề, học văn hóa.theo quy định của pháp luật. Hình phạt tù có thời hạn chủ yếu làm người phạm tội bị mất đi quyền tự do, cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội. Đồng thời cũng giáo dục cải tạo nhằm họ có thể thay đổi nhân cách tốt hơn, có ích cho xã hội. - Thời gian chấp hành hình phạt tù có thời hạn có thời gian tối thiểu và tối đa, tùy theo tính chất, mức độ hành vi phạm tội.
Nếu xem xét ta có thể thấy tại Điều 38 BLHS năm 2015 về hình phạt tù 9 có thời hạn thì mức định tội đối với người phạm một tội có mức cao nhất là 20 năm và thấp nhất là 03 tháng. Về mỗi cấu thành tội của 1 tội được nêu cụ thể trong điều 38 “Mức thấp nhất không dưới 03 tháng và mức tối đa là 20 năm”. Vì vậy dù phạm tội chưa đạt hay ít nghiêm trọng thì mức hình phạt thấp nhất vẫn là 03 tháng, và nếu thuộc trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ngoài khung hình phạt chung thân và tử hình thì toà án có thể phạt lên tới 20 năm. Còn có trường hợp, người phạm tội có nhiều tội danh của nhiều bản án và có nhiều tội thì tổng hợp mức hình phạt cũng không được quá 30 năm.
- Mục đích của hình phạt tù có thời hạn nhằm trừng phạt người phạm tội về hành vi phạm tội của họ đã thực hiện. Hình phạt tù có thời hạn là chế tài nghiêm khắc chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống hình phạt của Bộ luật hình sự. Trong phần các tội phạm, hình phạt tù có thời hạn là hình phạt được quy định ở tất cả các điều luật trong Bộ luật Hình sự. Trong thực tế xét xử hình phạt tù có thời hạn được áp dụng phổ biến và được coi là hình phạt hữu hiệu và nghiêm khắc nhất để đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Hình phạt tù có thời hạn chỉ được áp dụng trong trường hợp khi thấy cần thiết phải cách ly người phạm tội ra khỏi cộng đồng xã hội trong khoảng thời gian nhất định để ngăn ngừa tội phạm và giáo dục người phạm tội. Hình phạt không phải là hình phạt tù chính là trường hợp hình phạt có thể đạt được mục đích mà không cần phải cách ly người phạm tội ra khỏi cộng đồng. Hình phạt tù có thời hạn được toà án áp dụng khi khung hình phạt của luật có quy định mà người phạm tội bị kết án có quy định hình phạt này. Đối với người dưới 18 tuổi, Toà án hạn chế áp dụng hình phạt tù, chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn khi xét thấy các biện pháp cảu tạo và giáo dục không có tính phòng ngừa và ăn đe.
Điều này được quy định tịa khoản 6 điều 91 của BLHS hiện hành. Nếu áp dụng hình phạt tù có thời hạn, người chưa đủ 18 tuổi được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn đối với người từ 10 18 tuổi trở lên. Và hình phạt áp dụng cũng nhẹ hơn và có thời hạn ngắn nhất cảu khung hình phạt. Ý nghĩa của hình phạt tù có thời hạn - Ý nghĩa chính trị - xã hội: Những hành vi không đúng với pháp luật của cá nhân và người phạm tội, làm nên những tiêu cực trong mặt xã hội.
Tạo nên những tiền đề xấu về môi trường sinh sống cũng như an ninh xã hội không tốt. Nên việc xét xử các vụ án hình sự đối với hành vi phạm tội nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đối với các bị can, bị cáo luôn nhận được sự chú ý quan tâm của xã hội và người dân. Vì vậy việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị - xã hội trong đời sống hiện nay. Việc áp dụng và vận dụng đúng hình phạt sẽ mang lại sự chấp thuận của đông đảo người dân, tạo nên sự khách quan trong xã hội của việc đánh giá tội phạm, đánh giá chính sách hính sự của nhà nược.
Điều này tạo niềm tin cho người dân vào chủ trương, đường lối của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, tăng uy tín của Tòa án, Cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi thực hiện quyền tư pháp, đồng thời tạo sự ổn định trong đời sống của nhân dân, người dân yên tâm trong sinh hoạt, lao động.