CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ QUY ĐỊNH HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề lí luận về hình phạt cải tạo không giam giữ 1. Khái niệm, đăc điểm của hình phạt cải tạo không giam giữ 1. Khái niệm hình phạt Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực có tính nguy hiểm cao trong xã hội, mang tính lịch sử và bản chất giai cấp sâu sắc, đấu tranh với tội phạm là nhiệm vụ tất yếu khách quan đặt ra cho mọi nhà nước, cho dù nhà nước đó là kiểu nhà nước nào.
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của được nhà nước áp dụng và nó trở thành công cụ hữu hiệu trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong lý luận của pháp luật hình sự có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất, nội dung và mục đích của hình phạt. Tuy nhiên, về cơ bản, hình phạt được coi là công cụ để đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Đây là một quan niệm tiến bộ và nhân đạo, hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm mục đích giáo dục, cải tạo và ngăn ngừa tội phạm.
Quan niệm này về hình phạt thể hiện rõ nét phương châm kết hợp cưỡng chế và giáo dục cải tạo trong chính sách hình sự, cưỡng chế là không thể thiếu nhưng giáo dục, thuyết phục cũng có vai trò rất quan trọng, nó có ưu thế hơn cưỡng chế ở khả năng làm cho con người có thể tự nguyện tuân theo và trao cơ hội cho họ sửa chữa những lỗi lầm vi phạm, như vậy sự đồng tình đó mới thực sự bền vững. Theo quan điểm này, mục đích cuối cùng được đặt ra là hạn chế, đi đến triệt tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, kế thừa truyền thống văn hoá, đạo đức dân tộc, tiếp thu những tinh hoa tiến bộ 8 Luan van của luật hình sự thế giới; đồng thời, có xét đến thực trạng và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, luôn trao hình phạt, biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước cho Toà án áp dụng đối với người phạm tội. ở từng giai đoạn khác nhau, những quy định của pháp luật Việt Nam về hình phạt cũng khác nhau nhưng đều thể hiện rõ tư tưởng: Nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị đi đôi với giáo dục, cải tạo.
Trong các hình phạt được luật hình sự quy định, bên cạnh các hình phạt nghiêm khắc như tù chung thân, tử hình., thì luôn có những hình phạt nhẹ hơn không tước bỏ tự do của người bị kết án như phạt tiền, cảnh cáo, CTKGG và các quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt v. tạo điều kiện cho người bị kết án hoà nhập với cộng đồng, giảm chi phí phát sinh không đáng có cho xã hội đó là cái mà luật hình sự hướng tới. Với tinh thần đó, hình phạt trong luật hình sự Việt Nam thực sự là công cụ hữu hiệu của nhà nước để bảo vệ chế độ, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của nhà nước. Bộ luật hình sự năm 1999 là văn bản pháp lý đầu tiên được quy định một cách chính thức khái niệm hình phạt trong một điều luật, làm cơ sở phân biệt hình phạt và các biện pháp cưỡng chế khác của nhà nước cụ thể: Tại Điều 26 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.
Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định”. Còn theo Điều 30 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng định về Khái niệm hình phạt “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người 9 Luan van hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó” [34]. Theo các khái niệm này có thể thấy nội dung pháp lý của hình phạt là tước bỏ hoặc hạn chế các quyền và lợi ích của người phạm tội, đó có thể là các quyền, lợi ích về thể chất tinh thần hay tài sản hoặc các quyền, lợi ích khác của người phạm tội như: Quyền sống, quyền tự do đi lại, tự do hành nghề hay các quyền chính trị khác., nó thể hiện thái độ của nhà nước đối với người phạm tội và đối với tội mà người đó thực hiện. Nhà nước, với sự tước bỏ hoặc hạn chế, một mặt trừng trị lên án người phạm tội, mặt khác nhằm răn đe giáo dục họ trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
Khái niệm hình phạt cải tạo không giam giữ Trong Bộ luật hình sự không có khái niệm pháp lý nào về hình phạt CTKGG mà chỉ có các quy định về phạm vi, điều kiện áp dụng, nguyên tắc áp dụng của hình phạt này. Dưới góc độ lý luận, thì hình phạt CTKGG được định nghĩa như sau: Phạt CTKGG, là hình phạt không buộc người bị kết án phải cách ly với xã hội (không tước tự do), và buộc người bị kết án phải nộp sung công quỹ nhà nước một khoản tiền (khấu trừ thu nhập) nhất định do Tòa án quyết định ghi trong bản án. Khái niệm này phản ánh đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng cũng như nội dung pháp lý của hình phạt CTKGG. Dưới góc độ thực tiễn, thì hình phạt CTKGG được định nghĩa: Hình phạt CTKGG là một hình phạt được qui định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án áp dụng thông qua việc xét xử đối với người phạm tội nhằm thể hiện trách nhiệm hình sự lẫn trách nhiệm về vật chất (bị khấu trừ thu nhập) của người đó đối với hành vi trái pháp luật hình sự mà họ đã gây ra cho xã hội.
Hình phạt CTKGG được luật hình sự quy định do Toà án áp dụng đối với người phạm tội, nội dung pháp lý của nó chính là việc Tòa án giao họ cho 10 Luan van môt cơ quan hoặc tổ chức quản lý giám sát và thực hiện tước bỏ một phần một khoản tiền (thu nhập hàng tháng) nhất định của người bị kết án. Với nội dung đó hình phạt CTKGG là loại hình phạt có khả năng tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến cả đời sống lẫn kinh tế đối với người phạm tội, nó đặc biệt có hiệu quả trong việc đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (Chương XIV BLHS 2015), như tội Tội giết cố ý gây thương tích hoặc gây tổ hại cho sức khỏe người khác [Điều 134 BLHS 2015]; các loại tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân (Chương XV BLHS 2015), như Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật [Điều 157 BLHS 2015] và các loại tội phạm xâm phạm sở hữu (Chương XVI BLHS 2015), như Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, Tội trộm cắp tài sản, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản [Điều 170, 172, 173, 174, 175 BLHS 2015]… và một số loại tội có tính chất vụ lợi, các tội dùng tài sản làm phương tiện hoạt động phạm tội, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự an toàn công cộng, trật tự quản lý hành chính. mà chưa đến mức phải áp dụng những loại hình phạt nghiêm khắc hơn, đồng thời hạn chế việc tước tự do của người bị kết án khi không cần thiết. Về mặt thời gian, hình phạt CTKGG đối với người phạm tội, thì nhà nước đã tạo cho họ một khoảng thời gian liên tục ở ngoài xã hội để họ tạo ra của cải vật chất cho gia đình và cho xã hội; mặt khác tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước giảm các chi phí xã hội phát sinh không cần thiết và vẫn đạt được mục đích làm cho người phạm tội thấy được trách nhiệm của mình đã gây ra mà từ đó tích cực cải sửa để làm người công dân tốt cú ích cho xã hội.
Ngoài việc phải chịu sự quản thúc (giám sát) và bị nộp phạt một khoản tiền (khấu trừ thu nhập) nhất định người bị kết án không phải chịu bất cứ một sự ràng buộc hay trách nhiệm nào khác ngoại trừ việc mang án tích như các hình phạt chính khác. 11 Luan van Khi áp dụng phạt CTKGG, Toà án cũng nhằm hướng tới những mục đích chung của hình phạt là trừng trị người phạm tội, giáo dục, cảm biến người phạm tội và răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Với những mức hình phạt có thể lên đến 03 năm CTKGG và khấu trừ thu nhập hàng tháng của người phạm tội lên đến 20%. Khả năng trừng trị của phạt CTKGG, là tương đối nghiêm khắc, cho phép áp dụng đối với nhiều loại tội phạm có mức độ ít nghiệm trong và nghiêm trọng khác nhau.
Việc quy định hình phạt CTKGG trong luật hình sự đã góp phần đa dạng hoá các hình thức hình phạt, đa dạng hoá các biện pháp xử lý hình sự trong hoạt động phòng và đấu tranh chống tội phạm hiện nay. Quy định hình phạt cải tạo không giam giữ trong hệ thống hình phạt đã rút ngắn, thu hẹp khoảng cách về mức độ nghiêm khắc giữa hình phạt cảnh cáo, phạt tiền và hình phạt tù có thời hạn mà khi xét xử Toà án có thể thực hiện nguyên tắc “Nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu, ngoan cố chống đối, lưu manh côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức; đồng thời, khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, lập công chuộc tội và có vai trò thứ yếu”. Đó cũng là cơ sở pháp lý để Toà án thực hiện việc xét xử một cách công bằng đối với các trường hợp phạm tội. Hình phạt CTKGG góp phần thực hiện nguyên tắc xử lý có phân biệt và nguyên tắc cá thể hoá hình phạt với các trường hợp phạm tội khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội.
Chính sách hình sự của nhà nước đòi hỏi nghiêm trị phải kết hợp với khoan hồng; đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, ăn năn hối cải thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù.