CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI TRỐN TRÁNH NGHĨA VỤ QUÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, ý nghĩa của việc quy định tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự 1. Khái niệm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự trong pháp luật hình sự Việt Nam Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ công dân đối với nhà nước, đó là nghĩa vụ thiêng liêng của công dân. Thực hiện nghĩa vụ quân sự góp phần giữ vững an ninh quốc phòng, bảo đảm cho độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Vì thế Điều Điều 45 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “1. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân; 2. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân”. Theo đó, Luật Điều 4.
Nghĩa vụ quân sự năm 2015 cũng quy định: “1. Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân; 2. Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật này”.
Trên thực tế, vì những động cơ cá nhân khác nhau vẫn có người trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự. Điều đó không chỉ vi phạm nghĩa vụ công dân mà còn gây nguy hiểm cho nền quốc phòng toàn dân ở những mức độ khác nhau. Vì thế, để góp phần bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quân sự, luật nghĩa vụ quân sự, luật hành chính và 14 luan an luật hình sự đều quy định cấm hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự. Điều 10 Luật nghĩa vụ quân sự quy định các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có “Trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự”.
Luậthành chính thì quy định xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự;quy định về sơ tuyển nghĩa vụ quân sự; quy định về kiểm tra, khám sức khỏe; quy định về nhập ngũ… Luật hình sự cũng quy định trốn tránh nghĩa vụ quân sự là tội phạm với những hành vi và điều kiện nhất định. Trong trường hợp, trốn tránh nghĩa vụ quân sự bị coi là tội phạm thì vấn đề nhận thức về tội phạm này cũng cần được làm rõ ở góc độ luật hình sự ở góc độ ngôn ngữ cũng như bản chất pháp lý của tội phạm này. Tội phạm là khái niệm được quan tâm nghiên cứu trọng tâm trong khoa học pháp lý hình sự và đã có nhiều quan điểm, định nghĩa về tội phạm. Trên cơ sở kế thừa những quy định trước đó, Điều 8 BLHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015) quy định: “1.
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Theo pháp luật hình sự, các hành vi thỏa mãn các yếu tố được quy định trong Điều 8 BLHS nêu trên mới được coi là tội phạm. 15 luan an Theo từ điển Tiếng Việt “trốn tránh” là trốn khỏi phải gặp, phải làm hoặc phải chịu điều không hay, không muốn [28; 1320].
Theo luật khoản 1, Điều 4 Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 “nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị Quân đội nhân dân”. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, lĩnh vực an ninh quốc phòng luôn chiếm một vị trí quan trọng, bảo đảm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc. Lĩnh vực này cần một lực lượng thực hiện nghĩa vụ ổn định, thường xuyên để duy trì sức mạnh quân sự sẵn sàng chiến đấu và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Phục vụ trong các đơn vị quân đội có thể khó khăn, vất vả và hy sinh. Vì thế, thời gian phục vụ ngắn, cần bảo đảm sức khỏe cần thiết. Cũng vì thế, có những người vì những động cơ khác nhau đã cố ý trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ, làm ảnh hưởng đến nền quốc phòng toàn, gây nguy hiểm cho xã hội. Hiện tượng trốn tránh nghĩa vụ quân sự cũng phổ biến, cần có những biện pháp pháp lý để xử lý hành vi đó.
Tùy tính chất, mức độ vi phạm mà nhà nước xử lý bằng biện pháp trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự. Ở mức độ nguy hiểm đáng kể, nhà làm luật quy định hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự là tội phạm. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự là việc người trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự mà không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh tập trung huấn luyện. Hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự tùy thuộc vào mức độ khác nhau mà có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự.
Vậy khi nào thì hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự cấu thành tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự? Cũng giống như các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính khác tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự là hành 16 luan an vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước, cụ thể ở đây là hoạt động bình thường của cơ quan quân sự địa phương về đăng ký nghĩa vụ quân sự. Nhận thức về tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự có sự kế thừa những yếu tố hợp lý trong định nghĩa khoa học và định nghĩa pháp lý về tội phạm. Như vậy, hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự cấu thành tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự khi nó được coi là nguy hiểm cho xã hội do BLHS quy định, xâm phạm trật tự quản hành chính của Nhà nước về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ và gọi tập trung huấn luyện, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự với nội dung như sau: Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự là hành vi cố ý không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội cần thiết phải xử lý bằng biện pháp trách nhiệm hình sự.
Khái niệm này đã phản ánh được các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội trốn tránh nghĩa vụ quận sự về các trường hợp trốn tránh nghĩa vụ quân sự, trên cả ba phương diện: khách quan, chủ quan và pháp lý, là cơ sở khoa học cho việc nhận thức đúng đắn về tội phạm này trên thực tế. Ý nghĩa của việc quy định tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự Việc luật hình sự Việt Nam quy định tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự có một số ý nghĩa sau: Thứ nhất,tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự trong luật hình sự bảo đảm trách nhiệm và sự bình đẳng về việc thực hiện nghĩa vụ công dân đối với nhà nước và xã hội (theo Hiến pháp và pháp luật về Nghĩa vụ quân sự), bảo đảm pháp chế trong nghĩa vụ quân sự. 17 luan an Điều 15 Hiến pháp quy định “1. Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân … 3.
Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội”. Thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân. Điều đó đã thành ý thức của mỗi người Việt Nam, xuất phát từ truyền thống dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc Việt Nam ta. Bên cạnh những thanh niên hăng hái lên đường nhập ngũ thì có không ít những thanh niên tìm cách trốn tránh nghĩa vụ quân sự.
Điều đó cũng thể hiện sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ công dân đối với nhà nước. Tội trốn tránh NVQS được quy định tại Điều 332, Chương 22 các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính BLHS 2015. Việc quy định này tội danh này nhằm đảo bảo cho các quy định của Hiếp pháp và Luật Nghĩa vụ quân sự được chấp hành nghiêm chỉnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới. Bảo vệ Tổ Quốc là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân được Hiến pháp và Luật Hình sự Việt Nam ghi nhận.
Việc quy định tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự tại Điều 332 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) góp phần hoàn thiện hệ thống các chế định về tội danh trong BLHS trên cơ sở kế thừa và phát huy các BLHS trước đó. Nghiên cứu tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội phạm, trên cơ sở đó đề ra các phương hướng, cách thức, phương pháp tiến hành các hoạt động điều tra nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hình sự liên quan đến tội phạm này. Cấu thành tội phạm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động điều tra vụ án hình sự.