Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ Lĩnh vực kinh tế là lĩnh vực quan trọng nhất để phát triển xã hội và phát triển con người. Đảng và Nhà nước ta đã thấy được tầm quan trọng của nền kinh tế, vì vậy đã tập trung nghiên cứu, tìm hiểu, đầu tư phát triển nền kinh tế và đã thu được nhiều thành tựu to lớn. Đảng và Nhà nước đã không ngừng đưa ra những chính sách, pháp luật để điều tiết phát triển nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường, đồng thời đưa ra những quy định cấm đối với các hành vi gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của nền kinh tế. Để có cái nhìn khái quát các vấn đề lý luận của tội CVLN trong giao dịch dân sự, sau đây tác giả phân tích làm rõ một số vấn đề như: các yếu tố cấu thành tội CVLN trong giao dịch dân sự; khái niệm, đặc điểm, dấu hiệu và lịch sử phát triển của tội CVLN trong giao dịch dân sự.
Những vấn đề lý luận về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 1. Khái niệm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 1. Khái niệm về tội phạm Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự. Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự ở mỗi nước.
Tội phạm là một hiện tượng xã hội, cho nên khái niệm của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển xã hội và ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện. Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên cũng có một số quốc gia không đưa khái niệm tội phạm vào Bộ luật hình sự. 8 luan an Cụ thể: BLHS Cộng hòa Liên bang Đức không có điều luật về khái niệm tội phạm nhưng có cả một chương quy định về hành vi phạm tội. Trong đó, các quy định tập trung vào các vấn đề như: chủ thể của tội phạm, vấn đề lỗi và các trường hợp sai lầm, vấn đề thực hiện qua không hành động và vấn đề thực hiện cho người khác, các căn cứ biện hộ, phạm tội chưa đạt, người thực hiện phạm tội và người tòng phạm.
Hay như ở Cộng hòa Pháp, trong Phần chung của Bộ luật hình sự không nêu các dấu hiệu của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại Phần các tội phạm lại quy định các dấu hiệu của hành vi phạm tội,v. Tại Việt Nam, tuy vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc có cần thiết phải đưa khái niệm tội phạm vào BLHS hay không. Nếu quy định thì nên theo hướng nào.
Nhưng về mặt lập pháp, khái niệm tội phạm đã được quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 trên cơ sở kế thừa quy định của các Bộ luật trước đó. Cụ thể, phân tích điều khoản này có thể hiểu tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam là một khái niệm bao gồm các thành tố sau: - Thứ nhất, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Có thể nói đây là dấu hiệu quan trọng nhất của tội phạm. Bởi vì tội phạm trước hết phải là hành vi, không có hành vi thì không có tội phạm.
Đối với luật hình sự Việt Nam không truy cứu trách nhiệm đối với những âm mưu, ý nghĩ, dự định chưa được thể hiện ra thế giới bên ngoài bằng hành vi. Đồng thời tội phạm phải là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội thể hiện ở mặt đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho xã hội. Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại về vật chất, tinh thần, thể chất hoặc những thiệt hại khác mà hành vi gây ra cho xã hội. - Thứ hai, hành vi của tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.
9 luan an Đây cũng là một dấu hiệu quan trọng của tội phạm. Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Một hành vi được coi là tội phạm khi hành vi đó do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và đạt độ tuổi nhất định do luật định. Như vậy người thực hiện hành vi dù có nguy hiểm đáng kể cho xã hội nhưng không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, như người bị tâm thần hoặc mất khả năng nhận thức thì không phải là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Thứ ba, hành vi của tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự có nghĩa là tội phạm phải được quy định trong BLHS. Đây còn được gọi là dấu hiệu hình thức của tội phạm. Theo quy định tại Điều 2 BLHS năm 2015 thì chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này nhằm bảo đảm cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, bảo đảm cho quyền chính đáng của công dân tránh sự tùy nghi không có cơ sở từ các cơ quan có thẩm quyền.
- Thứ tư, tội phạm phải chịu hình phạt. Bất kỳ một hành vi phạm tội nào cũng bị áp dụng một hình phạt đã được quy định trong Bộ luật hình sự. Một người thực hiện các hành vi có đủ 4 dấu hiệu trên thì được coi là tội phạm. Khái niệm về cho vay Ngày nay, để phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất của người dân thì việc đầu tư nguồn vốn để phát triển kinh tế đồng thời tìm kiếm nguồn vốn, tài chính để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày là gần như bắt buộc.
Với nguồn tài chính dồi dào nhằm để hổ trợ giúp đỡ cho người khác và tăng nguồn thu nhập cho bản thân, nhiều cá nhân, tổ chức đã tận dụng 10 luan an nguồn vốn của mình cho các chủ thể khác vay, mượn để sinh hoạt và sản xuất. Để hiểu rõ thuật ngữ cho vay, người viết đưa ra một số khái niệm được chấp nhận rộng rãi tại Việt Nam về cho vay như sau: BLDS năm 2015 định nghĩa như sau về hợp đồng vay tài sản: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài * * * sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài * * * sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa * * * thuận hoặc pháp luật có quy định” (Điều 463). * Còn đối với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì cho vay: “là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc * * * cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác * * * định trong một thời gian nhất định theo sự thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn * * * * trả cả gốc và lãi” (khoản 16 Điều 4). Ngoài ra, theo Từ điển luật học thì cho vay được hiểu là: “Bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền hoặc vật cùng loại để làm sở hữu trong thời hạn hoặc các bên đã thỏa thuận.
Cho vay có thể có lãi hoặc không có lãi, người vay chỉ phải trả lãi nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”1. Theo Từ điển Tiếng Việt thì cho vay là: “đưa tiền cho vay trong một thời hạn nhất định rồi trả cả vốn lẫn tỷ suất lại”2. Theo Từ điển Tưởng giải và liên tưởng thì khái niệm cho vay là “tạm cho người khác sử dụng một khoản tiền hoặc vật dụng và sẽ được hoàn lại theo thỏa thuận”3. Từ các khái niệm pháp lý và khái niệm trong từ điển Việt Nam, tác giả đưa ra khái niệm về cho vay như sau: cho vay là việc một người (người cho 1 Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa,tr.143 2 Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, tr.371 3 Ngyễn Văn Đạm, Từ điển tưởng giải và liên tưởng tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, tr.149 11 luan an vay) cho người khác (người vay) sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình trong một thời gian xác định, sau đó người vay phải hoàn trả tài sản đó cho bên người cho vay với một khoản lãi suất theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: ông A cho ông B vay 10.000 đồng để hoạt động sản xuất, với thỏa thuận là ông B sẽ trả lại cho ông A 10.000 đồng đó trong 10 tháng, hàng tháng phải trả cho ông A 1.000 đồng tiền gốc cộng với 100.000 đồng tiền lãi suất, đến khi ông B trả hết số tiền 10.000 đồng đó cho ông A. Như vậy, việc vay và trả này là theo thỏa thuận (hợp đồng) giữa ông A và ông B, và hợp đồng này được pháp luật thừa nhận, bảo hộ. Khái niệm giao dịch dân sự Giao dịch dân sự là một trong những vấn đề phổ biến và quan trọng trong lĩnh vực dân sự bởi đây là phương tiện hữu hiệu để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Do đó, làm rõ những vấn đề liên quan đến hiệu lực của giao dịch dân sự luôn là nội dung then chốt của giao dịch dân sự, góp phần đảm bảo hiệu quả thực thi của luật, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan.
Điều 116 BLDS năm 2015 xác định: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Từ quy định này ta thấy giao dịch dân sự được xác định là kết quả của việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí đơn phương hoặc đa phương - một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí. Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự.
Giao dịch là hành vi có ý thức của 12 luan an chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định. Trong giao dịch dân sự ý chí và sự thể hiện ý chí của chủ thể tham gia giao dịch là vô cùng quan trọng.