Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XÓA ÁN TÍCH 1. Khái niệm và hậu quả pháp lý của án tích 1. Khái niệm án tích Với sự quan tâm của nhà nước, pháp luật hình sự Việt Nam kể từ sau khi pháp điển hóa được Quốc hội thông qua BLHS năm 1985 lần đầu tiên được chính thức ghi nhận về mặt lập pháp các quy phạm về án tích được quy định tại khoản 5 Điều 3 và tại các Điều 52 đến Điều 56 của BLHS năm 1985 quy định xóa án và các trường hợp xóa án: Đương nhiên xóa án, xóa án theo quyết định của Tòa án, xóa án trong trường hợp đặc biệt. Trong lần pháp điển hóa thứ hai với việc thông qua BLHS năm 1999, các nhà làm luật Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh lại chế định này cho hoàn thiện hơn, vấn đề án tích được quy định trong khoản 5 Điều 3 và tại các Điều 63 đến Điều 67 của BLHS năm 1999 nhưng vẫn còn một số điểm hạn chế nhất định.
Xét về mặt lý luận ít được các nhà hình sự học nước ta quan tâm nghiên cứu chế định án tích cũng là một trong các chế định có liên quan đến nhiều nhóm quan hệ pháp luật – pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự. Bởi án tích có cả trong khi đang chấp hành hình phạt, hơn nữa trong khoa học luật hình sự Việt Nam đương đại vẫn chưa xuất hiện một định nghĩa pháp lý về án tích, cũng như chưa có một công trình nghiên cứu chuyên khảo độc lập nào đề cập nghiên cứu chế định án tích một cách toàn diện và có hệ thống. Do BLHS đã không đưa ra được khái niệm về án tích cụ thể gây ra nhiều quan điểm khác nhau trong giới luật học về khái niệm án tích cũng như đặc điểm và bản chất, ý nghĩa của án tích. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam đã có một số quan điểm như sau về khái niệm án tích: - PGS,TS.
Phạm Hồng Hải cho rằng: “Án tích là hậu quả pháp lý của bản án kết tội mà Tòa án tuyên đối với người phạm tội, là một tình tiết có ý nghĩa pháp lý 5 luan an trong việc đánh giá tính chất nguy hiểm của tội phạm và của người phạm tội khi tội phạm được thực hiện trong thời gian người ấy mang án tích” [14, tr. Quan điểm này đã nêu ra đặc điểm pháp lý của án tích được dùng để đánh giá tính chất nguy hiểm của tội phạm trong trường hợp tái phạm và tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, quan điểm này vẫn còn chưa hợp lý bởi án tích không phải luôn luôn được coi là hậu quả pháp lý của việc người đó bị kết án trong một số trường hợp như người bị kết án được miễn hình phạt hay chỉ áp dụng biện pháp tư pháp sẽ không làm phát sinh án tích mặc dù có bản án kết tội tồn tại.TSKH Lê Cảm: “Án tích là hậu quả pháp lý của việc người bị kết án bị áp dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và là giai đoạn cuối cùng của việc thực hiện trách nhiệm hình sự, được thể hiện trong việc người bị kết án mặc dù đã chấp hành xong bản án (bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Tòa án) nhưng vẫn chưa hết án tích hoặc chưa được xóa án tích theo các quy định của pháp luật hình sự” [11, tr. Quan điểm này của GS.TSKH Lê Cảm coi án tích là giai đoạn cuối cùng của việc thực hiện trách nhiệm hình sự là chưa thực sự chính xác.
Bởi, trách nhiệm hình sự được thể hiện ở quyết định hình phạt sẽ áp dụng đối với người phạm tội, trách nhiệm hình sự chỉ được chấm dứt khi người bị kết án thực hiện xong tất cả hình phạt và các nghĩa vụ cần thực hiện khi bản án được Tòa án ra phán quyết cuối cùng hoặc người đó được miễn hình phạt. - Quan điểm của GS, TS. Nguyễn Ngọc Hòa: “Án tích là đặc điểm xấu về nhân thân của người đã bị kết án và áp dụng hình phạt, được ghi và lưu lại trong lý lịch tư pháp trong thời gian nhất định, là hậu quả pháp lý bất lợi cho người có đặc điểm đó”[15, tr. Mặt khác “án tích được hiểu một cách bao quát và trước hết ở chỗ chủ thể đã bị kết án và áp dụng hình phạt về một tội phạm nhất định và chưa được xóa án tích”[15, tr.
Đây là quan điểm chỉ khá rõ bản chất của án tích cũng như các đặc điểm pháp lý của án tích. Quan điểm này chú trọng đến vấn đề đặc điểm nhân thân của người mang án tích. Trong thực tế, án tích là một đặc điểm xấu về nhân thân của người phạm tội, trong đó dấu hiệu “có tiền án” chính là đặc điểm để nhận diện 6 luan an người đó có án tích hay không. Việc một người mang án tích có thể sẽ mang lại nhiều hậu quả pháp lý bất lợi cho người đó.
Theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) thì: “Án tích là đặc điểm xấu (hậu quả) về nhân thân của người đã bị kết án và bị áp dụng hình phạt đã được ghi và lưu lại trong lý lịch tư pháp trong thời gian luật định” [10, tr. Quan điểm này đã khái quát và làm rõ án tích được áp dụng với những chủ thể đã bị kết án và bị áp dụng hình phạt về một tội phạm cụ thể mà chưa được xóa án tích. Điều này được thể hiện một cách rõ ràng trong LLTP của họ với dòng chữ được ghi “có tiền án”. Bản chất của án tích là những đặc điểm xấu về mặt nhân thân của người phạm tội.
Thời gian mang án tích dài hay ngắn là tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội gây ra. Trong thực tế hiện nay, một người khi đã mang án tích thì sẽ gặp rất nhiều bất lợi trong cuộc sống, có ảnh hưởng trực tiếp đến người thân của họ. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người đó khi muốn tái hòa nhập cộng đồng. Như vậy, từ những sự phân tích, nghiên cứu trên đây thấy rằng trong khoa học luật hình sự Việt Nam có những nghiên cứu và các cách hiểu khác nhau về khái niệm án tích.
Mỗi quan điểm tiếp cận khái niệm án tích dưới những góc độ khác nhau nhằm làm rõ bản chất, đặc điểm, các dấu hiệu của án tích. Từ những nghiên cứu này, tác giả khái quát lại như sau: Án tích là dấu hiệu chứng tỏ một người đã từng phạm tội và bị kết án bằng một bản án buộc tội của Tòa án, kèm theo đó là những hậu quả pháp lý bất lợi đối với người đó như bị áp dụng các tình tiết tái phạm hay tái phạm nguy hiểm với tư cách tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết định khung hình phạt hoặc tình tiết định tội danh. Án tích tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định và được xóa khi đáp ứng đủ điều kiện của luật định. Tóm lại, chế định án tích đã thể hiện được một phần của chính sách hình sự của nhà nước ta, đó là chính sách nhân đạo thông qua việc quy định điều kiện, thời gian thử thách đối với người phạm tội để họ được coi là người chưa bị kết án.
Bên cạnh đó, những quy định này cũng thể hiện sự nghiêm khắc đối với những người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt và đối với những trường hợp người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt mà lại phạm tội mới trong thời gian mang án tích, đối với 7 luan an trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Đối với những trường hợp này, án tích có ý nghĩa pháp lý trong việc đánh giá tính chất nguy hiển của tội phạm. Hậu quả pháp lý của án tích 1. Án tích chính là đặc điểm xấu về nhân thân chứng tỏ một người có án tích đã từng bị kết án vì đã phạm tội Án tích không phải là đặc điểm về nhân thân có tính vĩnh viễn, sau khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật thì án tích sẽ được xóa và người đã được xóa án tích được coi như chưa bị kết án.
Đây là đặc điểm nhân thân của người bị kết án, có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá nhân thân của người phạm tội tốt hay xấu, từ đó, có thể đánh giá được tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như quyết định hình phạt, định khung hình phạt. Trong quá trình giải quyết vụ án, để đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật thì cơ quan điều tra, truy tố, xét xử phải nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về nhân thân người phạm tội. Mặc dù nhân thân của người phạm tội không phải là yếu tố cấu thành tội phạm nhưng việc nghiên cứu nhân thân của người phạm tội một cách đầy đủ và khách quan có ý nghĩa rất lớn. Ở một số loại tội phạm, yếu tố nhân thân của người phạm tội có ý nghĩa quyết định đối với việc định tội hoặc định khung hình phạt.
Việc quy định án tích là một đặc điểm nhân thân của người phạm tội còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt. Đặc điểm nhân thân của người phạm tội vừa thể hiện khả năng giáo dục, cải tạo, vừa thể hiện được khả năng tái phạm. Ngoài ra nhân thân của người phạm tội nó cũng thể hiện được phần nào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà họ thực hiện. Do vậy, việc nghiên cứu nhân thân của người phạm tội cũng có ý nghĩa rất lớn trong quyết định hình phạt.
Nhân thân người phạm tội cũng là một trong những dấu hiệu quan trọng quyết định việc tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Cấu thành tội phạm tăng nặng của tội Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (khoản 2 Điều 152 BLHS năm 2015) đòi hỏi chủ thể có đặc điểm là tái phạm nguy hiểm. Theo đó, một người thực hiện hành vi nếu đang có án tích thì trong trường hợp này sẽ bị xem xét tăng nặng trách nhiệm hình sự. Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với người bị kết án và bị áp dụng hình phạt Không phải bất cứ người phạm tội và bị kết án nào cũng có án tích.