CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TÁI PHẠM VÀ TÁI PHẠM NGUY HIỂM 1. Những vấn đề lý luận về tái phạm và tái phạm nguy hiểm 1. Khái niệm, đặc điểm về tái phạm 1. Khái niệm Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thuật ngữ “tái phạm” được sử dụng rộng rãi, tuy nhiên, nội dung tái phạm ở mỗi ngành luật lại được định nghĩa, giải thích khác nhau.
Cụ thể: Tái phạm trong quan hệ hành chính được ghi nhận tại khoản 5 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính được hiểu như sau: “Tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định này mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử lý”.[45, khoản 5 Điều 2] Tái phạm trong quan hệ lao động được ghi nhận tại khoản 3 Điều 125 Bộ luật lao động được hiểu như sau: “Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này” [44, khoản 3 Điều 125] Trong quan hệ pháp luật hình sự, tái phạm được ghi nhận trong tất cả các BLHS năm 1985, 1999 và nay tiếp tục được ghi nhận trong BLHS 2015. Tuy nhiên, về mặt lý luận, khái niệm tái phạm trong pháp luật hình sự chưa được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, xây dựng. Theo đó, người phạm tội bị coi là tái phạm khi có đủ các điều kiện sau: 7 luan an Một là, người phạm tội đã bị kết án và chưa được xóa án tích. Điều kiện đã bị kết án là điều kiện tiên quyết trước khi xem xét người đó có tái phạm hay không, việc đã bị kết án được hiểu là một người đã bị Tòa án nhân dân kết án mà không phân biệt tội phạm bị kết án là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm đó được thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý thì đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của điều kiện trên.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng không phải tất cả những người đã bị kết án đều bị coi là có án tích. Các trường hợp đã bị kết án nhưng không bị coi là có án tích được quy định tại khoản 2 Điều 69 BLHS và tại khoản 1 Điều 107 BLHS (đối với người bị kết án dưới 18 tuổi). Như vậy, người đã bị kết án mà không thuộc các trường hợp này mới bị coi là có án tích. Tuy nhiên, án tích sẽ được xóa theo quy định tại các điều từ khoản 1 Điều 69 đến Điều 73 và khoản 2 Điều 107 BLHS.
Hai là, người đang có án tích đã phạm tội mới và tội phạm đó là tội phạm do cố ý hoặc tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Người đang có án tích là người vẫn đang thuộc đối tượng được quan tâm, chăm sóc, giáo dục trong quá trình hòa nhập, tái cộng đồng, đây là giai đoạn nhạy cảm khi tư tưởng, thái độ, ý thức pháp luật của họ dần thay đổi theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực sau khi chấp hành hình phạt tù của bản án trước. Việc họ tiếp tục phạm tội mới trong giai đoạn này sẽ được suy đoán ý thức pháp luật của họ chưa được thay đổi theo hướng tích cực, hình phạt trước đối với họ chưa thể giáo dục họ hoàn lương do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn ở lần phạm tội này. Điều lưu ý là tội phạm người đang có án tích thực hiện phải là tội phạm mới, đồng nghĩa với việc các tội phạm mà trước đây họ thực hiện nhưng chưa bị phát hiện mà nay bị phát hiện và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì họ mới bị xem xét áp dụng tái phạm.
Bên cạnh đó, ở điều kiện tiếp theo ghi nhận tội phạm mới này phải là 8 luan an tội phạm do cố ý (không phân biệt tội phạm thực hiện mới này là loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng) hoặc tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Trong nghiên cứu khoa học pháp lý, khái niệm tái phạm được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau có thể kể đến: Quan điểm thứ nhất: Cho rằng tái phạm là tình trạng một người trước đãbị kết án về một tội, về sau lại phạm và bị truy tố nữa [13, tr. Theo đó,cácđiều kiện của tái phạm gồm: 1) Người thực hiện hành vi phạm tội đã bị kết ánđối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó; 2) Người phạm tội lại phạmtội mới. Quan điểm thứ hai: Tái phạm là trường hợp của người đã từng bị kết tội bởi một bản án có hiệu lực pháp luật, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội lần nữa [24, tr.
Quan điểm thứ ba: Tái phạm là trường hợp phạm tội sau khi đã bị xử phạt và chưa được xoá án tích về tội đã phạm trước đó [26, tr. Về bản chất các quan điểm nêu trên đều được xây dựng dựa trên quy định của BLHS về các điều kiện áp dụng tái phạm, tuy nhiên việc luận giải, diễn đạt và sử dụng một số thuật ngữ trong nội dung các khái niệm trên có sự khác nhau. Từ sự phân tích trên, học viên đồng tình với khái niệm tái phạm được ghi nhận trong BLHS 2015 đã thể hiện đầy đủ bản chất cũng như dấu hiệu, điều kiện xác định tái phạm, đó là: Tái phạm là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý hoặc do vô ý về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong thời gian chưa được xóa án tích về tội phạm trước đã bị kết án. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm có tính nguy hiểm cao hơn người phạm tội thuộc trường hợp phạm tội lần đầu vì họ 9 luan an đã bị kết án nhưng phạm tội lại trong thời gian chưa được xóa án tích về tội đã bị kết án.
Đặc điểm Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích khái niệm tái phạm nêu trên, có thể thấy tái phạm có một số đặc điểm sau: Một là, tái phạm là hành vi phạm tội lặp lại. Bản chất của tái phạm là sự lặp lại hành vi phạm tội do đó một trong các dấu hiệu khi nhắc đến tài phạm đó chính là hành vi phạm tội lặp lại. Hai là, người thực hiện tội phạm trước đây đã bị kết án và bị xử phạt theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. Điều này có nghĩa là trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này (tội phạm lặp lại) người phạm tội đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó thoả mãn các dấu diệu của cấu thành tội phạm độc lập.
Hành vi phạm tội trước đó đã bị đưa ra xét xử và người phạm tội đã bị Toà án kết tội và bị áp dụng hình phạt. Ba là, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới trong một khoảng thời gian nhất định sau khi bị kết án lần thứ nhất. Về mặt lập pháp, các nhà làm luật thường đưa ra quy định “một khoảng thời gian nhất định” kể từ ngày bị kết án lần thứ nhất tức là khi hết thời gian đó thì người bị kết án sẽ không bị coi là người phạm tội lần nữa và hành vi phạm tội mới sẽ không bị coi là tái phạm hay nói cách khác, hết khoảng thời gian đó thì người phạm tội sẽ được xoá án tích. Tuy nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành không có quy định cụ thể thế nào là án tích nhưng dựa trên các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý và sự đúc kết từ bản thân học viên, học viên cho rằng: Án tích là hậu quả pháp lý của việc người bị kết án bị áp dụng hình phạt theo bản án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án.
Trong một khoảng thời gian 10 luan an nhất định theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, người bị kết án mặc dù đã chấp hành xong bản án (bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Toà án) nhưng vẫn chưa hết án tích hoặc chưa được xoá án tích theo các quy định của pháp luật hình sự. Như vậy, khi nhắc đến án tích bao giờ cũng gắn với việc một người bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án và được coi là xóa án tích khi hết thời hạn thử thách mà pháp luật quy định. Bốn là, tái phạm là một tình tiết tăng nặng TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội. Tái phạm là một tình tiết làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đồng thời bản thân người phạm tội cũng trở nên nguy hiểm hơn đối với xã hội khi thực hiện hành vi phạm tội mới.
Do đó, việc áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS là tái phạm sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý theo hướng bất lợi hơn cho người phạm tội. Vì vậy, việc quy định về tái phạm và áp dụng quy định pháp luật hình sự về tái phạm không thể tùy tiện. Như vậy, việc ghi nhận tái phạm với tư cách là một tình tiết tăng nặng TNHS trong Bộ luật hình sự phản ánh chính sách hình sự nghiêm khắc và công bằng của Nhà nước ta. Đồng thời, tái phạm cũng trở thành một trong những căn cứ để phân hoá TNHS và cá thể hoá hình phạt đối với người phạm tội.
Năm là, tái phạm là thước đo kết quả của chấp hành hình phạt của người bị kết án. Có thể nói, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với tình tiết tái phạm là người đã từng bị xử lý về trách nhiệm hình sự, từng bị áp dụng hình phạt mà vẫn không ăn năn, hối cải, vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới thể hiện sự chống đối lại xã hội, coi thường pháp luật. Điều này chứng tỏ hình phạt trước đây đã áp dụng đối với họ chưa đủ sức răn đe, cải tạo họ. Vì thế, ở lần tái phạm này, cần phải áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn để phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.