Chương 1: LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình sự tội cướp giật tài sản 1.1 Khái niệm, đặc điểm tội cướp giật tài sản Tại Điều 171 BLHS năm 2015 các nhà lập pháp chỉ quy định tội cướp giật tài sản như sau: “Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.126] Trong điều luật không mô tả cụ thể những dấu hiệu đặc trưng hay nêu ra một khái niệm nào của tội cướp giật tài sản (CGTS) mà chỉ nêu tội danh. Xoay quanh vấn đề khái niệm tội CGTS, có nhiều tác giả đưa ra nhiều quan điểm khác nhau như: “cướp giật tài sản là nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát”, hoặc “tội cướp giật giật tài sản là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai”, hoặc “tội cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng, công khai chiếm đoạt tài sản”. Tội CGTS là một trong những tội xâm phạm sở hữu của người phạm tội đối với của chủ thể khác một cách cố ý. Đối tượng thực hiện hành vi CGTS có mục đích chiếm đoạt từ trước và lợi dụng sơ hở của chủ thể sở hữu hoặc người đang quản lý tài sản rồi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bằng cách nhanh chóng giật, giằng lấy tài sản; hành vi được thực hiện một cách công khai, nhanh chóng giằng, giật lấy tài sản trong tay người khác hoặc đang trong sự quản lý của người có trách nhiệm về tài sản rồi tẩu thoát mà không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hay bất kỳ một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản.
Đối tượng có thể phải sử dụng một lực nhất định tác động khi thực hiện hành vi phạm tội tác động lên người bị hại hoặc người đang trực tiếp quản lý tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản nhanh chóng mà không để cho chủ sở hữu kịp phản ứng. Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu, quan điểm của tác giả đối với khái niệm tội CGTS có thể được hiểu như sau: Tội cướp giật tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý bằng cách công khai bất ngờ giật lấy tài sản của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát. 6 luan an Kế thừa quy định tại Điều 136 BLHS năm 1999, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội cướp giật tài sản tại Điều 171, điều luật cũng không nêu ra một khái niệm cụ thể nào của tội CGTS mà chỉ nêu tội danh. Tuy nhiên, có thể xác định một số đặc điểm nổi bật của tội cướp giật tài sản như: Người phạm tội lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản để nhanh chóng giật lấy tài sản mà người quản lý khó có thể giữ được hoặc giằng lại được.
Cũng chính vì vậy, tài sản mà người phạm tội cướp giật chủ yếu hướng tới là loại tài sản gọn nhẹ như: Đồng hồ, dây chuyền vàng, điện thoại, túi xách, trang sức,. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp người phạm tội cướp giật cả những tài sản có kích thước lớn như xe đạp, xe máy, vì sau khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản thì họ sẽ sử dụng chúng làm phương tiện tẩu thoát. Ngoài ra, yếu tố bất ngờ trong tội CGTS cũng là một dấu hiệu đặc trưng của tội phạm, có thể nói, đây là dấu hiệu quyết định tới việc người phạm tội có thực hiện thành công hành vi phạm tội hay không. Ngoài ra, tội CGTS còn mang tính chất công khai, trắng trợn, thể hiện ở chỗ người phạm tội không giấu diếm hành vi phạm tội của mình từ trước đến toàn bộ quá trình thực hiện hành vi nên ngay khi bị mất tài sản người bị hại có thể biết ngay người giật tài sản của mình là ai.
Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản và phân biệt tội cướp giật tài sản với một số tội phạm khác 1. Dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản 1.1 Khách thể của tội cướp giật tài sản Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại được BLHS bảo vệ. Theo LHS Việt Nam, những khách thể được bảo vệ bởi luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định trong Khoản 1, Điều 8 của BLHS năm 2015. Cũng như các tội phạm có tính chất chiếm đoạt trong chương các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại XVI BLHS năm 2015, khách thể của tội CGTS là quan hệ sở hữu tuy nhiên, trong một vài trường hợp người phạm tội CGTS còn xâm phạm đến một vài khách thể khác như quan hệ nhân thân của bị hại.
Điểm giống nhau của các tội cùng Chương tội phạm xâm phạm sở hữu là có cùng khách thể vậy nên đó không phải là một tiêu chí để phân biệt tội CGTS với các tội khác cùng chương. 7 luan an Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản là đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản thường là những tài sản dưới dạng vật chất, gọn nhẹ, dễ dịch chuyển vì khi đó kẻ phạm tội mới có thể nhanh chóng chiếm đoạt, tẩu thoát khỏi sự quản lý của người đang quản lý tài sản. Tài sản là đối tượng của tội CGTS phải thỏa mãn cả hai yếu tố là còn đang nằm trong sự chiếm hữu và phạm vi quản lý của chủ tài sản bởi chỉ khi đó, hành vi người phạm tội CGTS mới cấu thành tội này bởi khi tài sản đã thoát ly khỏi sự quản lý của chủ tài sản hoặc tài sản không có ai quản lý. thì không thể là đối tượng của tội CGTS.
Một điểm quan trọng nữa có ý nghĩa quan trọng để đánh giá tài sản có phải là đối tượng của tội CGTS hay không là tài sản đó phải là những tài sản được giao dịch hoặc mua bán một cách hợp pháp, là tài sản hữu hình, có thực, có thể sờ thấy, nhìn thấy. Ngoài ra, có những tài sản bị nhà nước cấm lưu hành như vũ khí, chất phóng xạ, pháo nổ, ma túy. thì không phải là đối tượng của tội cướp giật tài sản.2 Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản Mặt khách quan là tổng hợp tất cả các mặt phản ánh hành vi tác động đến thế giới khách quan bên ngoài của sự xâm hại đến khách thể được bảo vệ của chủ thể thực hiện hành vi một cách nguy hiểm đáng kể cho xã hội bao gồm rất nhiều yếu tố như: thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện,. Mặt khách quan của tội phạm CGTS được thể hiện rõ tại chính là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác.
Hành vi chiếm đoạt được hiểu là là việc một người nào đó dịch chuyển tài sản đang do người khác quản lý thành tài sản của mình một cách trái PLHS. Pháp luật không nêu rõ hay và mô tả hành vi cụ thể nào là khách thể của tội CGTS tuy nhiên, căn cứ vào khái niệm tội CGTS thì người phạm tội cướp giật tài sản có những hành vi sau: Giật tài sản Đặc trưng đầu tiên và cũng là tiên quyết của tội CGTS là hành vi giật, tức là sử dụng lực giằng mạnh lấy tài sản về mình một cách nhanh chóng. Cũng giống như các tội giết người, tội trộm cắp tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. các nhà làm lập pháp không mô tả chi tiết hành vi khách quan của tội phạm tuy nhiên ngay 8 luan an trong hành vi giật tài sản đã bao gồm bản chất của tội CGTS vậy nên các nhà làm luật không mô tả hành vi khách quan của tội CGTS cũng là điều dễ hiểu.
Trong quá trình áp dụng pháp luật, để đánh giá hành vi cho là phạm tội CGTS, người tiến hành tố tụng cần đánh giá các thủ đoạn, hình thức phạm tội của các đối tượng một cách chính xác để không nhầm lẫn với cầu thành các tội xâm phạm quyền sở hữu khác gần kề như: Công nhiên chiếm đoạt tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Cướp tài sản. Các thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng dễ nhầm với hành vi phạm tội khác thường là: - Dùng thủ đoạn chen lấn, xô đẩy người giữ tài sản để người này không chú ý đến tài sản nên người phạm tội có cơ hội tiếp cận, giật tài sản rồi tẩu thoát, nếu chỉ căn cứ vào một vài hành vi tác động đến thân thể sở hữu chủ thì có thể nhầm với hành vi phạm tội cướp tài sản, thực chất trờng hợp này người phạm tội chỉ dùng thủ đoạn để đánh lạc hướng rồi thực hiện hành vi CGTS mà không có ý định đương đầu với sở hữu chủ; - Lợi dụng chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản vướng mắc, không có khả năng đuổi bắt hoặc giằng giật lại tài sản để chiếm đoạt tài sản như: Lợi dụng người bán hàng xén đang bán hàng cho khách, người phạm tội đã lấy một thứ hàng trong rạp hàng rồi bỏ chạy, trường hợp phạm tội này dễ nhầm với hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản; - Người phạm tội có thể dùng thủ đoạn có vẻ như đe doạ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như: Giả làm cán bộ quản lý thị trường đến kiểm tra hàng rồi bất thần giật tài sản hoặc tạo điều kiện cho đồng phạm khác giật tài sản rồi tẩu thoát, trường hợp phạm tội này dễ nhầm với hành vi cưỡng đoạt tài sản; - Người phạm tội cũng có thể dùng thủ đoạn lén lút để tiếp cập chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản rồi bất ngờ giật tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như: Bí mật đột nhập từ phía sau chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đang ngồi nghỉ trên một chiếc ghế trong Công viên, rồi bất thần giật chiếc túi xách của người này rồi bỏ chạy, trường hợp này dễ nhầm với hành vi trộm cắp tài sản. Mặt khác, ngoài hành vi giật tài sản thì 02 dấu hiệu đặc trưng không thể thiếu của tội CGTS là dấu hiệu công khai và dấu hiệu nhanh chóng. 9 luan an Dấu hiệu công khai: Là một trong những đặc trưng của tội CGTS và là một trong cách tiêu chí nhằm so sánh, phân biệt tội CGTS với các tội khác của chương xâm phạm sở hữu.