CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1.Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1. Khái niệm áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác Quyền được sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền đã được pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia thừa nhận là quyền của con người. Nếu tính mạng và sức khỏe của con người không được được Nhà nước và pháp luật thừa nhận, bảo vệ thì con người không thể yên tâm học tập, lao động và xây dựng đất nước. Sức khỏe của con người là vô giá.
Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc là văn kiện pháp lý ghi nhận các quyền cơ bản của con người. Điều 3 Tuyên ngôn có quy định: “Ai cũng có quyền được sống, tự do và an toàn thân thể”. Điều 20 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”. Trên cơ sở đó, quyền được bảo hộ sức khỏe được ghi nhận ở các ngành luật dân sự, hành chính và hình sự.
Điều 134 BLHS năm 2015 quy định về tội CYGTT hoặc GTH cho người sức khỏe của người khác. BLHS năm 2015 không đưa ra bất kỳ một khái niệm nào về tội này, nhưng theo Từ điển Tiếng viết của Viện ngôn ngữ, chúng ta có thể hiểu như sau: “Cố ý” có nghĩa là định sẵn từ trước và thực hiện ý định đó [31, tr.205]; “Gây” có nghĩa là làm cho nảy sinh, phát ra [31, tr.377]; “Thương tích” là dấu vết để lại trên thân thể do bị thương [31, tr.976]; “Tổn hại” là làm mất 8 luan an mát, hư hại lớn; “Sức khỏe” nghĩa là sức mạnh của thân thể do không bị bệnh tật gì [31, tr. Còn theo Từ điển của Bộ Tư pháp thì “Cố ý gây thương tích” là hành vi xâm phạm thân thể, gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới dạng thương tích cụ thể [1, tr. Tác giả Nguyễn Ngọc Điện lại cho rằng “Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn tác động vào cơ thể nạn nhân làm mất hoặc giảm chức năng các bộ phận trên cơ thể nạn nhân [2, tr.
Dựa vào những phân tích ở trên, tác giả có thể đưa ra khái niệm về tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác như sau: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, tác động trái pháp luật đến thân thể của người khác nhằm gây thiệt hại về sức khỏe cho người đó dưới dạng thương tích hoặc sự mất, suy giảm chức năng của các cơ quan, bộ phận trên cơ thể nạn nhân”. Trên đây, là khái niệm về tội CYGTT hoặc GTT cho sức khỏe của người khác. Còn để có thể xây dựng được khái niệm áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, trước hết chúng ta cần phải làm rõ khái niệm áp dụng pháp luật là gì? Khi ban hành các quy phạm pháp luật, Nhà nước luôn hướng tới việc vận dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, thiết lập trật tự xã hội đáp ứng nhu cầu và lợi ích của nhân dân lao động và sự tiến bộ của xã hội. Mục đích đó chỉ đạt được khi các chủ thể thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh trong đời sống thực tế.
Trong khoa học, có nghiên cứu cho rằng áp dụng pháp luật là quá trình diễn ra ngay sau quá trình xây dựng pháp luật, bao gồm: “toàn bộ những việc làm, những hoạt động, những phương thức nhằm thực hiện những yêu cầu đặt ra trong pháp luật, trong việc điều chỉnh các quan hệ 9 luan an xã hội” [30, tr. Dựa vào tính chất của hoạt động, của hành vi thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý chia thực hiện pháp luật ra thành bốn hình thức cơ bản: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, và hình thức chúng ta đang quan tâm ở đây chính là áp dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các tổ chức và cá nhân thực hiện những quy định của pháp luật [33, tr. Ở đây các chủ thể áp dụng pháp luật luôn có sự tham gia của Nhà nước, hay nói cách khác không phải mọi chủ thể đều có thể áp dụng pháp luật như các hình thức thực hiện pháp luật khác.
Trong các hoạt động giải quyết các án về dân sự, lao động, kinh tế hay hành chính là hoạt động mang tính chất độc lập. Nhưng giải quyết án hình sự là cả một quá trình có sự kết hợp giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Từ khái niệm áp dụng pháp luật, cho phép chúng ta hiểu áp dụng pháp luật hình sự là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức cho các tổ chức và cá nhân thực hiện các quy định của pháp luật hình sự, đảm bảo các quy định của pháp luật hình sự đi vào đời sống thực tế. Thiếu đi sự đảm bảo này thì các quy phạm pháp luật hình sự không thể được thể hiện trong đời sống thực tế.
Thực tế đã chứng minh rằng, có rất nhiều trường hợp đã không có sự can thiệp của Nhà nước và nhiều quy phạm pháp luật hình sự không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Và việc áp dụng pháp luật hình sự cũng chỉ được đặt ra trong những trường hợp cụ thể và của một số cơ quan nhất định. Như vậy, pháp luật hình sự quy định sự hình thành pháp lý về tội phạm và hình phạt, trong khi đó áp dụng pháp luật hình sự đóng vai trò quan trọng hơn là đưa những quy định hay thủ tục vào đời sống thực tế. Dựa vào khái niệm của áp dụng pháp luật và áp dụng pháp luật hình sự, chúng ta có thể xây dựng khái niệm áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý 10 luan an gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: “Là một hình thức của áp dụng pháp luật do người có thẩm quyền tiến hành và áp dụng những quy phạm pháp luật hình sự liên quan đến tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác để giải quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật hình sự quy định”.
Đặc điểm áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác là một trong các loại áp dụng pháp luật, do đó cũng mang đặc điểm của áp dụng pháp luật. Cụ thể: Thứ nhất, là hoạt động mang tính tổ chức- quyền lực nhà nước. Đặc điểm này thể hiện ở chỗ chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành thể hiện mệnh lệnh quyền uy phục tùng của Nhà nước đối với các chủ thể bị áp dụng. Nếu như tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là các hình thức thực hiện pháp luật được thực hiện bởi bất kỳ chủ thể nào thì áp dụng pháp luật thì lại không dành cho tất cả.
Mỗi một cơ quan nhà nước sẽ được tiến hành các hoạt động áp dụng pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau. Đối với hoạt động áp dụng pháp luật hình sự thì Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan Điều tra được coi là cơ quan tiến hành Tố tụng hình sự xuyên suốt quá trình từ lúc bắt đầu cho đến giai đoạn ban hành ra văn bản áp dụng pháp luật. Cũng vì đặc điểm này, mà có ý kiến đã cho rằng “áp dụng pháp luật không chỉ là hình thức thực hiện thực tế các quy phạm pháp luật mà còn là một phương tiện để tổ chức thực hiện các quy phạm pháp luật trong đời sống.”và “áp dụng pháp luật như là hình thức pháp luật thứ hai để quản lý xã hội” [11, tr. Ngoài ra, đặc điểm này còn được thể hiện ở chỗ ADPLHS được tiến hành theo ý chí đơn phương của Nhà nước.
Tức là không tồn tại sự thỏa thuận 11 luan an giữa Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra với bị can, bị cáo và không bị ảnh hưởng bởi ý chí của chủ thể bị áp dụng pháp luật. Suy cho cùng, Tòa án, Viện kiểm sát hay Cơ quan điều tra họ không nhân danh họ mà họ đang nhận danh Nhà nước, đại diện cho ý chí của Nhà nước cho tính tối cao của quyền lực nhà nước. Và ý chí của Nhà nước được thể hiện rất rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật. Họ đang thực hiện chức trách chuyển hóa các quy định của pháp luật hình sự để giải quyết vụ án một cách khách quan nhất.
Thứ hai, áp dụng pháp luật hình sự là hoạt động được tiến hành theo những hình thức và thủ tục được pháp luật hình sự quy định rất rõ ràng và chặt chẽ. Cũng giống như áp dụng pháp luật thì ADPLHS cũng không thể áp dụng một cách tùy tiện. Để giải quyết một vụ án hình sự cần phải có một quy trình rất rõ ràng từ giai đoạn điều tra, khởi tố hay là xét xử đều phải cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình áp dụng. Tất cả các quy trình, thủ tục được cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Và điều này đồng nghĩa với việc ADPLHS không phải một hoạt động tùy tiện mà phải theo quy trình chặt chẽ. Thứ ba, ADPLHS là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với quan hệ pháp luật hình sự. Nếu như việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong tất cả các lĩnh vực và có hiệu lực gần như phổ biến cho mọi chủ thể thì đối tượng của áp dụng pháp luật là sự điều chỉnh cá biệt, cụ thể cho quan hệ xã hội khi có sự kiện phạm tội.