Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn 1. Khái niệm các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn Hiện nay, khái niệm các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn chưa được ghi nhận trong pháp luật hình sự Việt Nam. Để hiểu được khái niệm này thì trước hết cần phải hiểu khái niệm hình phạt.
Trong lĩnh vực khoa học luật hình sự, hình phạt là một trong những đối tượng nghiên cứu chủ yếu, trong đó việc làm sáng tỏ khái niệm hình phạt là một vấn đề hết sức quan trọng. Ở Việt Nam, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của khoa học luật hình sự trên thế giới và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm của nước ta, các nhà nghiên cứu Luật hình sự đã đưa ra những quan niệm về hình phạt như sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong Luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”[14]. “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất do luật quy định được Tòa án nhân dân nhân danh Nhà nước quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án”[45]. Có thể thấy, các khái niệm trên đều thống nhất với nhau ở nội hàm, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước do Tòa án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội nhằm mục đích giáo dục, cải tạo và trừng trị người phạm tội và phòng ngừa chung.
Điều này là phù 9 hợp với khái niệm pháp lý về hình phạt được quy định tại Điều 30 BLHS năm 2015:“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.” Trong luật hình sự Việt Nam, hệ thống hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung trong đó các hình phạt chính đóng vai trò trụ cột trong việc trừng trị, cũng như cải tạo giáo dục người phạm tội, còn các hình phạt bổ sung đóng vai trò hỗ trợ cho hiệu lực của các hình phạt chính. Việc BLHS quy định các hình phạt có mức độ nghiêm khắc khác nhau nhằm tạo điều kiện cho Toà án tuỳ từng trường hợp phạm tội cụ thể để lựa chọn hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Hình phạt được quy định trong mỗi khung hình phạt chính là sự phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm được quy định cũng như yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm đối với tội đó. “Một hệ thống hình phạt có nhiều hình phạt khác nhau thì việc xử lý càng chính xác và do vậy càng tiến gần tới mục đích của hình phạt…”.271] Về bản chất, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trước hết cũng mang những đặc điểm của hình phạt nói chung nhưng nó cũng mang đặc điểm riêng của mình thể hiện ở chỗ các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn tuy là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của nhà nước nhưng tính chất nghiêm khắc này nhẹ hơn so với hình phạt tù có thời hạn (cũng như tù chung thân, tử hình), không tước tự do của người bị kết án và chỉ áp dụng đối với cá nhân người phạm tội.
Vai trò của các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn rất có ý nghĩa. Nó không chỉ thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước ta mà còn góp phần thể hiện tốt nguyên tắc cá thể hoá hình phạt. “Bởi vậy, khi quyết định hình phạt đối với những trường hợp phạm tội cụ thể, trong một số trường hợp, nếu áp dụng hình phạt tù với họ thì quá nặng và không thể đạt được mục đích của hình phạt. Trong những trường hợp này, nếu xét thấy không cần cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội thì Tòa án có thể xem xét để họ được cải tạo, giáo dục trong môi trường cộng đồng”[20, tr.
10 Trên cơ sở phân tích nêu trên, có thể hiểu khái niệm các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn như sau: Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước được áp dụng đối với người phạm tội, có mức độ nghiêm khắc thấp hơn hình phạt tù có thời hạn, được BLHS quy định và do Tòa án quyết định áp dụng nhằm tước bỏ, hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Đặc điểm của các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn cũng là hình phạt nên trước hết, nó mang đầy đủ các đặc điểm của hình phạt. Bên cạnh đó, nó còn có một số đặc điểm riêng để phân biệt giữa các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn với các hình phạt chính khác. Thứ nhất, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn cũng có những đặc điểm chung của hình phạt.
Cụ thể như sau: + Là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước (tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội). Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, tức là không có một chế tài nào nghiêm khắc hơn hình phạt. Tính nghiêm khắc nhất của hình phạt thể hiện ở nội dung tước bỏ, hạn chế quyền và lợi ích của người bị kết án như quyền sở hữu, quyền tự do và có thể cả quyền sống của con người…Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn do là hình phạt, nên cũng mang tính cưỡng chế nghiêm khắc, thể hiện ở chỗ nó có thể gây tổn thất về tinh thần cho người bị kết án (cảnh cáo), hoặc tước bỏ hoặc hạn chế lợi ích kinh tế của họ (phạt tiền); hoặc buộc họ phải cải tạo tại cộng đồng dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền (cải tạo không giam giữ) hoặc buộc họ phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam trong thời hạn nhất định (trục xuất). Bên cạnh đó, người bị kết án hình phạt trên còn chịu án tích.
11 Khi xem xét, so sánh riêng lẻ giữa một số hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn với một số hình phạt bổ sung và với một số biện pháp cưỡng chế không phải cưỡng chế hình sự, chúng ta cũng không thể phủ nhận một thực tế rằng một số hình phạt bổ sung hoặc một số biện pháp cưỡng chế không phải cưỡng chế hình sự cho thấy mức độ nghiêm khắc có thể cao hơn một số hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn, ví dụ hình phạt cảnh cáo với tư cách là hình phạt chính so với hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung hoặc với tư cách là hình thức xử lý hành chính. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn vẫn là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc hơn so với các biện pháp cưỡng chế nhà nước không phải cưỡng chế hình sự và so với hình phạt bổ sung. Sự nghiêm khắc hơn của hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn thể hiện ở chỗ các hình phạt này, dù nặng hay nhẹ khi được áp dụng đều dẫn đến hậu quả pháp lý là người bị kết án phải chịu án tích trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định pháp luật, hậu quả pháp lý của án tích nặng nề hơn các chế tài khác. + Được quy định trong BLHS và do Toà án quyết định áp dụng bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.
Khoản 1 Điều 2 BLHS năm 2015 có quy định:“Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.” Như vậy, tính được quy định trong BLHS là yếu tố bắt buộc khi xem xét việc một người có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không. Ngoài BLHS ra, không có một đạo luật nào được quy định tội phạm và hình phạt mà chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Tội phạm và hình phạt luôn đi liền với nhau. Đã thực hiện tội phạm thì về mặt nguyên tắc phải chịu hình phạt và ngược lại hình phạt chỉ áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật hình sự coi là tội phạm.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, chính xác, khách quan, bảo đảm không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Hình phạt do Tòa án quyết định phải được tuyên một cách công khai bằng một bản án và phải 12 là kết quả của một phiên tòa xét xử hình sự với đầy đủ trình tự, thủ tục do Luật tố tụng hình sự quy định. Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn cũng là hình phạt, do vậy, các hình phạt này cũng được quy định trong BLHS (tại các Điều 34, 35, 36, 37). Các hình này do Toà án quyết định áp dụng bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.
+ Được áp dụng độc lập và mỗi tội phạm chỉ được tuyên một hình phạt chính. Khoản 3 Điều 32 BLHS năm 2015 có quy định: Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung. Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn cũng là hình phạt chính nên nó cũng có đặc điểm của các hình phạt chính.