Chương 1); quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ (Điều 72 đến Điều 81). Với tính chất là hoạt động áp dụng pháp luật, thi hành các hình phạt không tước tự do được thực hiện bởi cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Khi thực hiện nhiệm vụ thi hành các hình phạt không tước tự do, cơ quan và người có thẩm quyền nhân danh Nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để buộc người bị kết án phạt không tước tự do phải chấp hành hình phạt tại cộng đồng xã hội. Đối với người phải chấp hành 16 n án nếu không chấp hành hình phạt có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "tội không chấp hành bản án" theo quy định tại Điều 380 BLHS.
Trong trường hợp, người phải chấp hành án vi phạm các quy định về thi hành án hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác thì sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để buộc họ phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về thi hành án hoặc chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, mức độ cưỡng chế trong thi hành các hình phạt không tước tự do thấp hơn so với thi hành hình phạt tù. - Thứ hai, thi hành các hình phạt không tước tự do luôn hướng tới mục đích và thực hiện những nhiệm vụ nhất định. Trước hết, thi hành các hình phạt không tước tự do là nhằm bảo đảm các hình phạt mà Tòa án quyết định áp dụng với người bị kết án trong bản án đã có hiệu lực pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh trên thực tế.
Đây là mục đích, nhiệm vụ hàng đầu và rất quan trọng, bởi nếu các hình phạt không tước tự do đã được Tòa án tuyên trong bản án đã có hiệu lực pháp luật mà không được chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ thì toàn bộ quá trình tố tụng trước đó (như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử) khó mà có ý nghĩa. Mặt khác, các hình phạt không tước tự do mà Tòa án tuyên phạt đối với người bị kết án không được thi hành trên thực tế thì rất khó giáo dục được người dân ý thức tôn trọng pháp luật, ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm. Ngoài ra, thi hành các hình phạt không tước tự do còn nhằm mục đích quản lý, giáo dục, cải tạo người bị kết án trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, không tái phạm, tạo điều kiện cho họ tự giác cải tạo tại cộng đồng cũng như phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức, gia đình và mọi người dân trong việc giáo dục, cải tạo người bị kết án. - Thứ ba, việc thi hành các hình phạt không tước tự do được thực hiện bởi nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau nơi người bị kết án cư trú, làm việc với sự tham gia của gia đình người chấp hành án.
17 n Nếu thi hành hình phạt tù được giao cho cơ quan chuyên trách thi hành án hình sự thực hiện, thì việc thi hành các hình phạt không tước tự do được thực hiện với nhiều cơ quan tổ chức khác nhau. Đây là những cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự không phải là cơ quan chuyên trách. Điều này thể hiện rõ tại các quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như: việc thi hành hình phạt cảnh cáo do Tòa án thi hành ngay tại phiên tòa; việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ được giao cho UBND cấp xã giám sát, giáo dục; thi hành hình phạt tiền do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện. Có thể thấy, pháp luật quy định nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau thi hành các hình phạt không tước tự do là xuất phát từ tính chất đa dạng của các hình phạt không tước tự do; đồng thời là để thực hiện chủ trương từng bước xã hội hóa công tác thi hành án hình sự đã được đề cập trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
- Thứ tư, thi hành các hình phạt không tước tự do có nội dung hết sức đa dạng, gồm nhiều hoạt động cụ thể khác nhau. Nội dung của thi hành án các hình phạt không tước tự do bao gồm tất cả những hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền nhằm đảm bảo cho bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thi hành trên thực tế. Những hoạt động này có thể là hoạt động của TAND trong việc ra quyết định thi hành án và chuyển quyết định đó cho cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thi hành án (UBND cấp xã, Cơ quan thi hành án dân sự). Thuộc nội dung của thi hành các hình phạt không tước tự do còn có các hoạt động của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thi hành án trong việc quản lý, giáo dục, cải tạo người chấp hành án tại cộng đồng (hình phạt cải tạo không giam giữ) hoặc hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự (hình phạt tiền).
18 n - Thứ năm, thi hành các hình phạt không tước tự do được tiến hành theo một trình tự, thủ tục pháp lý chặt chẽ và theo những nguyên tắc nhất định. Thi hành các hình phạt không tước tự do ảnh hưởng, tác động nhất định đến quyền và lợi ích thiết thân của người bị kết án, nhất là quyền con người, quyền công dân. Do vậy, hoạt động này phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục pháp lý chặt do Luật Thi hành án hình sự quy định (hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ) hoặc do Luật Thi hành án dân sự quy định (hình phạt tiền). Ngoài ra, hoạt động thi hành các hình phạt không tước tự do còn phải tuân thủ các nguyên tắc tiến bộ, có tính chất nền tảng, chỉ đạo như: tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh; bảo đảm nhân đạo xã hội chủ nghĩa; tôn trọng nhân phẩm, quyền, lợi ích của người chấp hành án; kết hợp giữa trừng trị với giáo dục, cải tạo trong thi hành án; áp dụng các biện pháp giáo dục, cải tạo phải trên cơ sở tính chất và mức độ phạm tội, tuổi, giới tính, trình độ văn hóa và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án; khuyến khích người chấp hành án ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động, cải tạo, tự nguyện bồi thường thiệt hại; bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật trong hoạt động thi hành án hình sự; bảo đảm sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình vào việc giáo dục, cải tạo người chấp hành án (Điều 4 Luật Thi hành án năm 2010).
- Thứ sáu, việc thi hành các hình phạt không tước tự do được tiến hành ngoài các cơ sở giam giữ. Nếu như hình phạt tù được thi hành tại các cơ sở giam giữ như trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; thi hành hình phạt không tước tự do được thi hành ở ngoài các cơ sở giam giữ nêu trên. Tùy thuộc vào 19 n từng loại hình phạt không tước tự do cụ thể mà nơi thi hành có thể là: tại phiên tòa (nếu là hình phạt cảnh cáo); tại nơi cư trú hoặc làm việc của người bị kết án (nếu là hình phạt cải tạo không giam giữ); tại cơ quan thi hành án dân sự (nếu là hình phạt tiền). Tóm lại, thi hành các hình phạt không tước tự do với tính chất là một hoạt động thi hành án hình sự, nên có đầy đủ các đặc điểm chung của thi hành án hình sự.
Tuy nhiên, thi hành các hình phạt không tước tự do là hoạt động có tính chất đặc thù, do đó có những đặc điểm riêng khác với thi hành hình phạt tù (hình phạt tước tự do của người bị kết án). Nắm vững những đặc điểm này mới có thể tổ chức tốt việc thi hành các hình phạt không tước tự do trên thực tế. Ý nghĩa của thi hành các hình phạt không tước tự do Mỗi loại hình phạt hay biện pháp tư pháp đều xuất phát từ mục đích của nó mà quyết định nội dung, phương pháp, hình thức cũng như thời hạn thi hành. Có thể nói, thi hành án hình sự là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, có thể tước bỏ hoặc hạn chế nhất định những quyền và lợi ích về vật chất, tinh thần của người bị kết án.
Hiệu quả hoạt động của thi hành án nói chung và thi hành các hình phạt không tước tự do nói riêng đã phản ánh tính hiệu quả của việc thực thi quyền lực Nhà nước trong thực tiễn cuộc sống và có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm trật tự, công bằng xã hội, tạo niềm tin cho nhân dân vào nền công lý, tính nghiêm minh của pháp luật. Và chỉ khi hoạt động thi hành án có hiệu quả thì công lý mới được thực thi; điều này gắn liền với việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội. Việc tổ chức thi hành có hiệu quả các hình phạt không tước tự do sẽ phản ánh tính đúng đắn của cơ chế quản lý Nhà nước trong công tác thi hành án, mà còn phản ánh tính quyền lực của Nhà nước, bảo vệ pháp chế, trật tự và 20 n công bằng xã hội. Khi áp dụng các hình phạt không tước tự do, Nhà nước đã thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo trong việc xử lý người phạm tội, tác động tích cực đến nhận thức của người phạm tội, giúp họ cải tạo, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội; còn giúp cho người bị kết án không gặp khó khăn, trở ngại khi tái hòa nhập cộng đồng.
Kết luận chương 1 Thi hành án hình sự là hoạt động có định hướng của các chủ thể do luật định, nhằm thực hiện các phán quyết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật về các loại hình phạt đã được áp dụng đối với người bị kết án.