Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự" do nghiên cứu sinh Trần Thị Liên thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, mã số 9380104), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Gia Lâm và TS. Nguyễn Văn Tuân, bảo vệ thành công năm 2019.
| Thông tin cơ bản |
Nội dung chi tiết |
| Đề tài luận án |
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự |
| Tác giả |
NCS. Trần Thị Liên |
| Cơ sở đào tạo |
Trường Đại học Luật Hà Nội |
| Chuyên ngành |
Luật hình sự và tố tụng hình sự (Mã số: 9380104) |
| Người hướng dẫn |
TS. Vũ Gia Lâm, TS. Nguyễn Văn Tuân |
| Năm hoàn thành |
2019 |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hiện hai chức năng cơ bản: thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động tư pháp. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã thể chế hóa các định hướng cải cách tư pháp, bổ sung nhiều nguyên tắc nền tảng như nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13) và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26).
Trong tiến trình tố tụng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự (XXSTVAHS) là giai đoạn trọng tâm, thể hiện tập trung và trực tiếp nhất vai trò của Viện kiểm sát (VKS) với tư cách là cơ quan công quyền duy nhất thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội trước Tòa án. Tuy nhiên, qua phân tích thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật, tác giả chỉ ra các khoảng trống và bất cập sau:
- BLTTHS năm 2015 tiếp tục ghi nhận hai chức năng của VKS nhưng chưa có sự phân định hoàn toàn rành mạch về nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hiện từng chức năng ở một số nguyên tắc và điều luật cụ thể.
- Sự "phân vai" giữa Tòa án và VKS trong hoạt động buộc tội còn thiếu tính triệt để: Tòa án vẫn tiếp tục xét xử khi VKS rút toàn bộ quyết định truy tố tại phiên tòa; Tòa án trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung khi thấy thiếu chứng cứ buộc tội; Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự tại phiên tòa nếu phát hiện tội phạm bị bỏ lọt.
- Thứ tự xét hỏi quy định Kiểm sát viên (KSV) – người mang trách nhiệm chứng minh tội phạm – lại xét hỏi sau Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.
- Thẩm quyền kết luận về tội danh hoặc điều khoản nặng hơn còn bất cập: VKS không có thẩm quyền kết luận về tội nặng hơn, điều khoản nặng hơn so với cáo trạng ngay tại phiên tòa trong khi Tòa án lại có quyền xét xử theo điều khoản nặng hơn trong cùng tội danh mà VKS đã truy tố.
- Pháp luật còn bỏ ngỏ cơ chế giải quyết khi VKS rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa nhưng Tòa án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, cũng như quy trình THQCT khi Tòa án xét xử theo tội danh nặng hơn vượt quá thẩm quyền của Tòa án cấp xét xử sơ thẩm.
- Kể từ khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về THQCT của VKS trong giai đoạn XXSTVAHS cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS, luận án xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng THQCT của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ tổng quan tình hình nghiên cứu về THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;
- Làm rõ những vấn đề lý luận về THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS, đặc biệt là khái niệm và đặc điểm của THQCT trong giai đoạn này;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về THQCT của VKS trong giai đoạn XXSTVAHS (chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân);
- Xác định yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng THQCT của VKS trong giai đoạn XXSTVAHS.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS; các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn thi hành quy định pháp luật về THQCT của VKS trong giai đoạn này.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về góc độ tiếp cận: Nghiên cứu dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự.
- Về chủ thể: Nghiên cứu hoạt động THQCT của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân (không bao gồm Viện kiểm sát quân sự).
- Về thủ tục tố tụng: Tập trung vào thủ tục tố tụng thông thường (không đi sâu vào thủ tục rút gọn, thủ tục đối với người dưới 18 tuổi, thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại).
- Về văn bản quy phạm pháp luật: Trọng tâm là BLTTHS năm 2015 và các văn bản liên quan, có so sánh, đối chiếu với BLTTHS năm 2003 và pháp luật của một số quốc gia.
- Về không gian và thời gian thực tiễn: Đánh giá số liệu tổng kết các vụ án hình sự trên phạm vi toàn quốc trong 10 năm (từ năm 2009 đến năm 2018); khảo sát bản án hình sự sơ thẩm trên Cổng thông tin điện tử công bố bản án của Tòa án nhân dân Tối cao; sử dụng số liệu điều tra xã hội học do chính nghiên cứu sinh khảo sát.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án xác định 5 câu hỏi nghiên cứu:
- Thế nào là THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS? Đặc điểm của THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS là gì?
- Những hoạt động THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS là gì?
- Mối quan hệ giữa THQCT và kiểm sát xét xử trong giai đoạn XXSTVAHS ra sao?
- Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về THQCT của VKS trong giai đoạn XXSTVAHS và thực tiễn thi hành như thế nào?
- Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS là gì? Cần có những yêu cầu và giải pháp cụ thể nào để nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS?
Giả thuyết nghiên cứu: Hoạt động THQCT của VKS ở giai đoạn XXSTVAHS có các đặc điểm đặc thù về phạm vi, đối tượng, nội dung và được thực hiện ở cả ba thời điểm: trước khi mở phiên tòa, tại phiên tòa và sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Hoạt động này có mối quan hệ phối hợp, đan xen, hỗ trợ với hoạt động kiểm sát xét xử nhằm bảo đảm bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện hành vẫn còn điểm nghẽn, mâu thuẫn về mặt lý luận và thực tiễn; do đó, để nâng cao chất lượng THQCT cần triển khai hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó hoàn thiện pháp luật giữ vai trò chủ đạo.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan theo từng nhóm chủ đề chuyên biệt:
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Nhóm nghiên cứu về mô hình tố tụng, chức năng và nguyên tắc tố tụng:
- Các công trình chuyên khảo của GS.TS. Nguyễn Đăng Dung: "Lược giải tổ chức bộ máy Nhà nước của các quốc gia" (2007) và "Viện kiểm sát nhân dân trong nhà nước pháp quyền" (2014); cuốn "Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự Việt Nam" của TS. Nguyễn Văn Tuân (2015); công trình của TS. Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nguyễn Thị Thủy (2013) bàn về đổi mới thủ tục TTHS đáp ứng cải cách tư pháp.
- Các đề tài cấp Bộ và ĐHQGHN do VKSND Tối cao chủ trì (2008), PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí làm chủ nhiệm (2012), và Đề án của Ban cán sự Đảng VKSND Tối cao (2012) về việc chuyển VKS thành Viện Công tố.
- Các luận án tiến sĩ của Nguyễn Duy Giảng (2014), Nguyễn Thị Thủy (2014) về chủ thể tiến hành tố tụng và mô hình tố tụng tranh tụng; các bài viết của PGS.TS.KH. Lê Cảm (2007), PGS.TS. Phạm Hồng Hải (2008), TS. Nguyễn Ngọc Chí (2011).
- Về chức năng và nguyên tắc tố tụng: TS. Lê Tiến Châu (2003, 2009), TS. Nguyễn Mạnh Hùng (2008, 2012), Hoàng Thị Sơn (1998), PGS.TS. Nguyễn Thái Phúc (2005, 2015); Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Học viện Khoa học xã hội (2015) với các bài viết của TS. Đinh Thị Mai, PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí.
- Luận án tiến sĩ về các nguyên tắc tố tụng của Lê Lan Chi (2010), Nguyễn Văn Hiển (2011), Đinh Thế Hưng (2017); các bài báo của Lê Văn Cảm và Nguyễn Huy Phương (2011), Lại Văn Trình (2012), Vũ Gia Lâm (2013), Nguyễn Duy Giảng (2015).
- Nhóm nghiên cứu về quyền công tố và thực hành quyền công tố:
- Sách chuyên khảo trước năm 1975: Cuốn "Nhiệm vụ của công tố viện" của Lê Tài Triển, Nguyễn Văn Lượng, Trần Thúc Linh (1971) và cuốn "Hình sự tố tụng chú giải – Quyển 1: Hành sự công tố quyền và thẩm vấn" của Hoàng Xuân Lộc, Đào Minh Lượng (1973).
- Sách của Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường (2005); Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp Bộ của VKSND Tối cao (1999) với bài viết của Đỗ Văn Đương, Phạm Hồng Hải, Trần Văn Độ, Phạm Tuấn Khải, Nguyễn Thái Phúc.
- Các luận án tiến sĩ chuyên sâu: Lê Thị Tuyết Hoa (2002) về quyền công tố ở Việt Nam; Tôn Thiện Phương (2017) về THQCT từ thực tiễn tỉnh Nghệ An; Hoàng Xuân Bốn (2017) về THQCT trong giai đoạn điều tra; các bài viết của Lê Cảm (2001), Nguyễn Minh Đức (2012), Trần Đình Nhã (2014).
- Nhóm nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS và Kiểm sát viên:
- Sách của TS. Dương Thanh Biểu (2007), TS. Nguyễn Hải Phong (2014), PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình (2015), sách tổng kết 55 năm ngành Kiểm sát (2015).
- Các bài viết phân tích về rút quyết định truy tố, xét hỏi, tranh luận và kháng nghị: Hồ Đức Anh (2008, 2009), Đinh Thế Hưng (2009), Nguyễn Văn Tuân (2010), Đỗ Văn Chỉnh (2012), Đỗ Xuân Tựu (2016), Đinh Văn Quế (2006), Nguyễn Chí Dũng (2014), Phạm Văn An (2011), Nguyễn Văn Doãn và Lê Hồng Phong (2013), Nguyễn Trung Kiên (2014), Đỗ Quốc Tuấn (2015), Nguyễn Nông (2005), Lê Thành Dương (2014), Trần Văn Hộ (2015).
- Nhóm nghiên cứu về giai đoạn XXST và mối quan hệ VKS - Tòa án:
- Sách và giáo trình: TS. Võ Thị Kim Oanh (2011), Giáo trình Luật TTHS Trường ĐH Luật TP.HCM (2013), Giáo trình Luật TTHS Trường ĐH Luật Hà Nội (2018), Ngô Thị Ngọc Vân (2016), Đinh Văn Quế (2001).
- Các bài viết của Lê Cảm (2002), Nguyễn Văn Du (2006), Vũ Gia Lâm (2010), Hồ Sỹ Sơn (2005), Nguyễn Mạnh Kháng (2008), Nguyễn Ngọc Chí (2009), Nguyễn Hà Trang (2010), Trương Đức Thắng (2014).
Các nghiên cứu nước ngoài
- Nghiên cứu so sánh về tổ chức và hoạt động công tố:
- David T. Johnson (2002), "The Japanese Way of Justice: Prosecuting Crime in Japan", Đại học Oxford.
- Jacqueline Hodgson (2005), "French Criminal Justice: A Comparative Account of the Investigation and Prosecution of Crime in France", Đại học Warwick.
- Mireille Delmas-Marty và J.R. Spencer (2002), "European Criminal Procedures", Đại học Cambridge (nghiên cứu thủ tục tại Anh, Đức, Pháp, Ý, Bỉ).
- John L. Worrall và M. Elaine Nugent-Borakove (2008), "The Changing Role of the American Prosecutor".
- Erik Luna và Marianne L. Wade (2010, 2012), "Prosecutor in Transnational Perspective" và bài viết "Prosecutors as Judges!" trên Tạp chí Washington and Lee Law Review.
- Anja Seibert-Fohr (2009), "Prosecuting Serious Human Rights Violations", Đại học Oxford; sách "Coping with Overloaded Criminal Justice Systems" (Springer, 2006); "Outline of the U.S. Legal System" (2004).
- Các nghiên cứu trên European Journal on Criminal Policy and Research của Martin Jehle, Marianne Wade, Beatrix Elsner (2008), Marcelo F. Aebi, Marc Balcells, Erika Roth, Özen Tokaç.
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù các công trình trước đây đã tiếp cận nhiều khía cạnh của quyền công tố hoặc thủ tục xét xử, phần lớn được triển khai trên nền tảng BLTTHS năm 2003 và Luật Tổ chức VKSND năm 2002. Luận án này là công trình đầu tiên nghiên cứu trực tiếp, có hệ thống và chuyên sâu về THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS trên cơ sở các quy định mới của BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014, giải quyết toàn diện mối quan hệ giữa THQCT và kiểm sát xét xử cũng như đánh giá thực tiễn áp dụng số liệu quốc gia giai đoạn 2009-2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý luận về quyền tư pháp, cơ cấu quyền lực nhà nước, phân công và kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước.
- Lý thuyết về các mô hình tố tụng (mô hình thẩm vấn, mô hình tranh tụng và xu hướng hội tụ).
- Lý thuyết về ba chức năng cơ bản của tố tụng hình sự: chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội (bào chữa) và chức năng xét xử.
- Lý luận về quyền công tố, thực hành quyền công tố, vị trí, vai trò, thẩm quyền của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ các khái niệm pháp lý, quy định của BLTTHS năm 2015 và các văn bản chỉ đạo của ngành Kiểm sát.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định của BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 2003; so sánh thực trạng quy định với thực tiễn áp dụng; so sánh đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia (Nhật Bản, Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nga, Ý).
- Phương pháp lịch sử: Khảo cứu sự hình thành và phát triển của các quy định pháp luật TTHS Việt Nam về THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm qua các thời kỳ lịch sử (từ năm 1945 đến nay).
- Phương pháp thống kê: Tổng hợp, xử lý dữ liệu thống kê xét xử toàn quốc, số vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung, tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm và kết quả chấp nhận kháng nghị của VKS trong 10 năm (2009 - 2018).
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế và phát phiếu khảo sát thu thập ý kiến thực tế của các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên công tác tại các đơn vị kiểm sát nhằm nhận diện vướng mắc thực tiễn và thẩm định tính khả thi của các giải pháp đề xuất.
Nguồn dữ liệu và tư liệu
- Các văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015, BLTTHS năm 2003, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Luật Tổ chức TAND năm 2014, Quy chế THQCT và KSSX số 505/QĐ-VKSTC, cùng các thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành.
- Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo tổng kết công tác ngành Kiểm sát và Tòa án từ năm 2009 đến 2018; các bản án hình sự sơ thẩm công bố công khai trên Cổng thông tin của TAND Tối cao; kết quả khảo sát bằng phiếu điều tra xã hội học của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 1 tập trung xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh cho hoạt động THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm:
- Khái niệm và đặc điểm: Luận giải khái niệm quyền công tố và THQCT; xác định giai đoạn XXSTVAHS bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố) do VKS chuyển giao và kết thúc khi bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật. THQCT trong giai đoạn này có các đặc điểm riêng về chủ thể (chỉ do VKSND thực hiện thông qua KSV), đối tượng (hành vi phạm tội của bị cáo bị truy tố), và phạm vi không gian/thời gian.
- Nội dung hoạt động THQCT: Được thực hiện liên tục qua ba thời điểm:
- Trước khi mở phiên tòa: Nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra các chứng cứ buộc tội, đề ra yêu cầu điều tra bổ sung nếu cần thiết, giải quyết khiếu nại, chuẩn bị luận tội và đề cương xét hỏi, quyết định việc rút truy tố hoặc thay đổi quyết định truy tố trước phiên tòa.
- Tại phiên tòa sơ thẩm: Công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi; trình bày luận tội; tham gia tranh luận, đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; phát biểu quan điểm xử lý vụ án khi có tình tiết mới hoặc rút một phần/toàn bộ quyết định truy tố.
- Sau khi kết thúc phiên tòa: Kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án; thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm nếu phát hiện vi phạm hoặc oan sai.
- Mối quan hệ giữa THQCT và kiểm sát xét xử sơ thẩm: Đây là hai chức năng độc lập nhưng có mối quan hệ biện chứng, đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong cùng một chủ thể là VKS. THQCT là tiền đề để thực hiện kiểm sát xét xử, và ngược lại, kiểm sát xét xử là công cụ bảo đảm cho hoạt động THQCT được tiến hành đúng pháp luật, khách quan, tránh lạm quyền.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng THQCT: Trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị và kỹ năng tranh tụng của KSV; chất lượng của hệ thống quy phạm pháp luật TTHS; cơ chế phối hợp và chế ước giữa VKS và Tòa án; cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ xét xử.
Chương 2: Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn thi hành
Chương 2 phân tích sự tiến triển của lập pháp và đánh giá thực tiễn áp dụng:
- Khái lược lịch sử phát triển: Phân tích các giai đoạn lập pháp TTHS từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Sắc lệnh số 13/SL (1946), Sắc lệnh số 85/SL (1950), Luật Tổ chức VKSND năm 1960, BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 đến BLTTHS năm 2015.
- Quy định của pháp luật TTHS hiện hành: Phân tích các điều luật cụ thể của BLTTHS năm 2015 điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của KSV khi THQCT ở giai đoạn sơ thẩm (công bố cáo trạng, thẩm quyền rút quyết định truy tố, thẩm quyền tham gia xét hỏi, tranh luận, giới hạn xét xử tại Điều 298, quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm).
- Thực tiễn thi hành và các số liệu minh chứng:
- Tổng kết thực tiễn xét xử 10 năm (2009 - 2018), phân tích các tồn tại như: tỷ lệ Tòa án trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung do thiếu chứng cứ buộc tội còn cao (được phản ánh tại Bảng 2.1); tình trạng KSV chưa chủ động trong tranh tụng, còn phụ thuộc vào kết quả điều tra ban đầu.
- Đánh giá chất lượng kháng nghị phúc thẩm của VKS: Tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm và tỷ lệ Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của VKS (phản ánh tại Biểu đồ 2.1 và Biểu đồ 2.2 giai đoạn 2016 - 2018).
- Chỉ ra các nguyên nhân hạn chế: Sự thiếu đồng bộ giữa BLTTHS năm 2015 và các quy chế nghiệp vụ ngành Kiểm sát (Quy chế THQCT và KSSX); kỹ năng xét hỏi, đối đáp của một bộ phận KSV chưa đáp ứng yêu cầu tranh tụng bình đẳng; việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án và VKS trong trường hợp thay đổi tội danh còn nhiều xung đột.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 3 xây dựng các định hướng và giải pháp cụ thể:
- Yêu cầu nâng cao chất lượng:
- Bảo đảm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp;
- Bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013;
- Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và nguyên tắc suy đoán vô tội;
- Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm.
- Các nhóm giải pháp đề xuất:
- Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự:
- Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 298 BLTTHS năm 2015 về giới hạn xét xử: Phân định rõ cơ chế xử lý khi Tòa án xét xử theo tội danh nặng hơn mà tội danh đó vượt quá thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp đang xét xử (chuyển vụ án lên Tòa án cấp trên có thẩm quyền); làm rõ tư cách và phạm vi buộc tội của VKS khi không đồng ý với quan điểm của Tòa án về việc đổi sang tội nặng hơn.
- Sửa đổi quy định về thứ tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo hướng KSV là người thực hiện nghĩa vụ buộc tội phải được thực hiện quyền xét hỏi đầu tiên, sau đó mới đến Hội đồng xét xử và người bào chữa.
- Sửa đổi quy định về hậu quả pháp lý khi VKS rút toàn bộ quyết định truy tố tại phiên tòa theo hướng Tòa án phải đình chỉ vụ án, không tiếp tục xét xử nếu chủ thể duy nhất thực hiện quyền công tố đã rút yêu cầu buộc tội.
- Quy định rõ ràng cơ chế giải quyết khi VKS rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa nhưng đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Hoàn thiện các văn bản, quy chế nội bộ ngành Kiểm sát: Sửa đổi Quy chế THQCT và kiểm sát xét xử vụ án hình sự của VKSND Tối cao nhằm bảo đảm tính thống nhất với BLTTHS năm 2015; hướng dẫn cụ thể việc KSV rút truy tố tại phiên tòa khi được VKS cấp trên phân công THQCT.
- Nâng cao năng lực, kỹ năng cho Kiểm sát viên: Tăng cường đào tạo chuyên sâu về kỹ năng tranh tụng, kỹ năng xây dựng bản luận tội sắc bén, kỹ năng xét hỏi và đối đáp tại phiên tòa; nâng cao bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức công vụ.
- Tăng cường các điều kiện bảo đảm: Nâng cấp cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động số hóa hồ sơ vụ án và trình chiếu chứng cứ tại phiên tòa; hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa VKS và Tòa án trên cơ sở tôn trọng tính độc lập của từng cơ quan.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Xây dựng một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, có tính hệ thống về THQCT của VKS trong giai đoạn XXSTVAHS; làm rõ khái niệm, các đặc điểm bản chất và nội dung hoạt động THQCT được phân định theo 3 thời điểm: trước khi mở phiên tòa, tại phiên tòa và sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm.
- Luận giải sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa hai chức năng THQCT và kiểm sát xét xử của VKS trong tố tụng hình sự Việt Nam, khẳng định THQCT là tiền đề và định hướng cho việc kiểm sát xét xử, đồng thời kiểm sát xét xử là công cụ bảo đảm quyền công tố được thực hiện đúng pháp luật.
- Làm rõ cơ sở khoa học của việc phân định ranh giới giữa chức năng buộc tội của VKS và chức năng xét xử của Tòa án trong bối cảnh tăng cường tranh tụng.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và lập pháp
- Đánh giá toàn diện thực trạng thi hành các quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS dựa trên số liệu thực chứng 10 năm (2009 - 2018) và khảo sát thực tế tại các địa phương.
- Chỉ rõ những điểm nghẽn, bất cập mang tính mâu thuẫn trong BLTTHS năm 2015 về:
- Giới hạn xét xử và thẩm quyền xét xử tội danh nặng hơn (Điều 298);
- Thứ tự xét hỏi chưa bảo đảm bản chất của mô hình tranh tụng;
- Cơ chế xử lý khi VKS rút quyết định truy tố ở các thời điểm tố tụng khác nhau;
- Hiện tượng trả hồ sơ điều tra bổ sung kéo dài do thiếu chứng cứ buộc tội.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp cụ thể, có căn cứ khoa học nhằm sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và sửa đổi các quy chế nghiệp vụ nội bộ của ngành Kiểm sát nhân dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu do tác giả xác định và kết luận từ Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường:
- Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu đối với hệ thống VKSND nói chung, chưa mở rộng nghiên cứu thực tiễn THQCT tại hệ thống Viện kiểm sát quân sự các cấp.
- Luận án chỉ tập trung vào thủ tục tố tụng thông thường, chưa phân tích chuyên sâu các thủ tục tố tụng đặc thù như thủ tục rút gọn, thủ tục xét xử đối với người dưới 18 tuổi hoặc pháp nhân thương mại phạm tội.
- Phần kinh nghiệm pháp luật quốc tế chủ yếu mang tính so sánh đối chiếu khái quát theo mô hình, chưa đi sâu vào chi tiết kỹ thuật lập pháp của từng đạo luật tố tụng nước ngoài.
- Một số giải pháp về tổ chức thực hiện cần được thiết kế với lộ trình thời gian chi tiết hơn.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng nghiên cứu hoạt động THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với các loại hình chủ thể đặc thù (pháp nhân thương mại phạm tội, người dưới 18 tuổi).
- Nghiên cứu cơ chế THQCT theo thủ tục rút gọn và các mô hình thỏa thuận nhận tội trong cải cách tư pháp hình sự.
- Nghiên cứu sâu về áp dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo hỗ trợ KSV trong việc số hóa chứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp Trung ương: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ việc rà soát, sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015, hoàn thiện các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao và thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng các quy định về xét xử sơ thẩm.
- Ngành Kiểm sát nhân dân: Các đơn vị nghiệp vụ và VKSND các cấp có thể tham khảo các phân tích về kỹ năng THQCT, kỹ năng xử lý tình huống khi rút truy tố hoặc khi Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung; phục vụ công tác rà soát, hoàn thiện Quy chế THQCT và KSSX.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Là tài liệu tham khảo giá trị cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự tại Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện Kiểm sát và các cơ sở đào tạo luật trên toàn quốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc của hoạt động THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm như thế nào?
Theo luận án, hoạt động THQCT trong giai đoạn XXSTVAHS bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố) do VKS chuyển giao và kết thúc khi bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật (hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị). Hoạt động này được triển khai liên tục qua ba thời điểm: trước khi mở phiên tòa, tại phiên tòa và sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm.
2. Tác giả đề xuất sửa đổi quy định về giới hạn xét xử tại Điều 298 BLTTHS năm 2015 như thế nào?
Tác giả đề xuất bổ sung quy định xử lý trường hợp Tòa án có căn cứ xét xử theo tội danh nặng hơn mà tội danh đó vượt quá thẩm quyền của Tòa án cấp đang xét xử thì Tòa án phải chuyển vụ án lên Tòa án cấp trên có thẩm quyền để giải quyết. Đồng thời, nếu Tòa án có căn cứ xử tội nặng hơn nhưng VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng ban đầu thì tại phiên tòa, KSV chỉ thực hiện nhiệm vụ buộc tội, xét hỏi và tranh luận trong phạm vi giới hạn hành vi của bị cáo mà VKS đã truy tố.
3. Mối quan hệ giữa chức năng THQCT và chức năng kiểm sát xét xử sơ thẩm được lý giải ra sao?
Luận án khẳng định THQCT và kiểm sát xét xử là hai chức năng độc lập nhưng đan xen, gắn bó chặt chẽ và tương hỗ nhau trong quá trình tố tụng của VKS. Hoạt động THQCT nhằm mục đích thực hiện việc buộc tội nhà nước, là cơ sở và tiền đề để thực hiện kiểm sát xét xử. Ngược lại, việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử là công cụ giám sát, bảo đảm cho hoạt động THQCT được thực hiện khách quan, đúng pháp luật, không vượt quá giới hạn và không dẫn tới oan sai.
4. Bất cập lớn nhất được tác giả chỉ ra trong thực tiễn thi hành THQCT tại phiên tòa sơ thẩm là gì?
Vấn đề vướng mắc lớn nhất trong thực tiễn được tác giả và các số liệu khảo sát chỉ ra là tình trạng Tòa án trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung do thiếu chứng cứ buộc tội còn chiếm tỷ lệ đáng kể. Nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu thống nhất trong đánh giá chứng cứ giữa VKS và Tòa án, cũng như quy định pháp luật về trách nhiệm chứng minh và giới hạn thẩm quyền của Tòa án trong việc hỗ trợ hoạt động buộc tội còn chưa rành mạch.
5. Khi KSV được VKS cấp trên phân công THQCT tại phiên tòa sơ thẩm có quyền rút quyết định truy tố không?
Theo kết quả phân tích và trả lời của tác giả tại Hội đồng chấm luận án, hiện có sự chưa thống nhất giữa quy định của BLTTHS năm 2015 và Quy chế THQCT của ngành Kiểm sát về việc KSV được ủy quyền có quyền rút truy tố tại phiên tòa hay không. Tác giả đề xuất trong trường hợp này KSV cần giữ nguyên quyết định truy tố theo chỉ đạo nghiệp vụ, đồng thời kiến nghị VKSND Tối cao cần sửa đổi quy chế nội bộ để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất hoàn toàn với quy định của luật.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Liên là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống đầu tiên về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sau khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận với khảo sát số liệu thực tiễn giai đoạn 2009 - 2018, công trình đã làm sáng tỏ bản chất pháp lý, nội dung và các yếu tố tác động đến chất lượng công tác công tố sơ thẩm. Các đề xuất sửa đổi điều luật cụ thể (đặc biệt là Điều 298 BLTTHS năm 2015 và thứ tự xét hỏi) mang giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công cuộc cải cách tư pháp và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.