Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm Thẩm phán: Hoạt động xét xử là yêu cầu khách quan, là một trong những chức năng của Nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước.
Tuy nhiên, đội ngũ Thẩm phán ra đời khá muộn (chỉ vào cuối chế độ phong kiến, đầu chế độ tư bản mới xuất hiện Thẩm phán) khi mà quyền lực Nhà nước được chia thành 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập, kiềm chế đối trọng nhau thì cũng đồng nghĩa với sự tách biệt của Toà án ra khỏi quyền hành pháp và lập pháp. Từ đó một đội ngũ chuyên làm nhiệm vụ xét xử là Thẩm phán ra đời. Theo từ điển Luật học và điều 65 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 định nghĩa: Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử. Thẩm phán là một chức danh tư pháp, nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia vào hoạt động xét xử.
Hiện nay, quá trình TTHS Việt Nam được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, với nhiều cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau, mà trong đó vị trí, vai trò của mỗi cơ quan là khác nhau. Mỗi cơ quan tiến hành tố tụng được xác lập quyền và nghĩa vụ thông qua các chủ thể khác nhau gọi là những người tiến hành tố tụng. TAND là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng có vị trí và vai trò quan trọng, là cơ quan cuối cùng kết thúc của quá trình tố tụng. Trong TAND, Thẩm phán là người có vị trí và vai trò then chốt để thực thi nhiệm vụ tố tụng của Tòa án.
Ở nước ta, từ năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND đã ghi nhận Thẩm phán là một chức danh tư pháp mà trước đó về mặt pháp lý Thẩm phán 7 luan an chỉ được coi là một chức vụ. Qui định này đánh dấu một bước ngoặt lớn về nhận thức để xây dựng đội ngũ Thẩm phán chuyên nghiệp, đáp ứng các yêu cầu của hoạt động xét xử, nhất là xét xử các vụ án hình sự. Mặc dù chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước quy định cụ thể về khái niệm chức danh tư pháp, nhưng trên thực tế có quan điểm cho rằng những người nào trực tiếp thực hiện quyền lực tư pháp thì mới là chức danh tư pháp. Vì vậy có thể hiểu chức danh tư pháp bao gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên (KSV), Thẩm phán, Thư ký Toà án, Hội thẩm.
TS Võ Khánh Vinh cho rằng chức danh tư pháp bao gồm những người thực hiện nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp đứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của pháp luật [42, tr. Trong các chức danh tư pháp thì Thẩm phán được xác định là một chức danh tư pháp quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền tư pháp. Thẩm phán (hoặc cùng với Hội thẩm) nhân danh Nhà nước để đưa ra phán quyết và khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tất cả cơ quan, tổ chức và mọi công dân đều phải chấp hành, kể cả những cơ quan nhà nước. Dưới góc độ xã hội, Thẩm phán được xem như là một nghề theo sự phân công của xã hội.
Hoạt động xét xử là một hoạt động nghề nghiệp đặc thù so với các nghề nghiệp khác ở chỗ hoạt động xét xử của Thẩm phán đòi hỏi một trình độ chuyên môn cao trong các lĩnh vực pháp luật, chính trị và xã hội. Hầu hết họ phải có kiến thức uyên thâm trên mọi lĩnh vực bởi lẽ họ là người đại diện cho nền công lý, cho công bằng của toàn xã hội. Tính chuyên nghiệp của Thẩm phán trong hoạt động xét xử là một trong những đặc tính quan trọng không những thể hiện trình độ cao về nghề nghiệp của Thẩm phán mà còn khẳng định vị thế của Thẩm phán trong bộ máy Nhà nước và đối với xã hội. Theo đó, hoạt động xét xử của Thẩm phán có những đặc trưng riêng: - Thứ nhất là tính đặc thù trong áp dụng pháp luật: điều này thể hiện ở chỗ Thẩm phán với vai trò là người đưa ra phán quyết dựa trên những chứng cứ khách 8 luan an quan, thực tế, không định kiến với mục đích bảo vệ công lý.
Hoạt động tranh tụng tại phiên Toà phải đảm bảo sự bình đẳng. Mọi hành vi ép buộc làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, đối với phán quyết của Thẩm phán đều trái với mục đích áp dụng pháp luật. Đặc thù này khẳng định Thẩm phán phải là người hết sức vô tư, tôn trọng bằng chứng, xem xét đúng đắn các chứng cứ thực tế mà các bên tranh tụng đưa ra trong quá trình xét xử. - Thứ hai: hoạt động xét xử chính là một cuộc đấu tranh tìm ra sự thực khách quan, hoạt động này chịu sự giám sát nghiêm ngặt của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Trong quá trình xử lý vụ án, Thẩm phán phải sử dụng năng lực và kiến thức cần thiết nhằm giải quyết vụ án một cách đúng đắn trên cơ sở bằng chứng thực tế và diễn biến tại phiên tòa. Đây là cả một quá trình tố tụng phức tạp đòi hỏi ngay từ đầu người Thẩm phán phải thực sự toàn tâm toàn lực và nhạy bén. Để không bị cám dỗ, lung lay về ý chí trên con đường tìm kiếm lẽ phải, cuộc đấu tranh về tinh thần của người Thẩm phán đòi hỏi bản thân họ phải luôn kiên quyết, vững vàng ý chí. Mục tiêu cuối cùng mà người Thẩm phán phải đạt được và cũng là mục đích mà toàn bộ nhân dân hướng tới sau một vụ án đó là một phán quyết thấu tình đạt lý, đảm bảo tính đúng đắn của bản án, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt kẻ phạm tội.
Phán quyết đó còn mang tính giáo dục ý thức pháp luật trong cộng đồng dân cư. Chính vì thế hoạt động xét xử của Thẩm phán được toàn xã hội giám sát. Nguyên tắc “Toà án xét xử công khai, khi xét xử có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân” chính là sự giám sát ở bên trong phiên toà. - Thứ ba là hoạt động này đòi hỏi Thẩm phán phải là một con người toàn diện, bản lĩnh vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, vô tư khách quan.
Đây không những là đặc thù nghề nghiệp của người Thẩm phán mà còn là các tiêu chuẩn mà pháp luật đặt ra đối với người Thẩm phán hiện nay. Chỉ có thể có kiến thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, luôn đấu tranh cho sự công bằng vô tư, một tâm hồn trong sáng và một bản lĩnh vững vàng thì nghề Thẩm phán và người Thẩm phán mới tạo dựng được sự tin tưởng và tôn kính. Bởi lẽ cần thiết có một chuẩn mực lý tưởng được xã hội thừa nhận, nắm giữ cán cân công lý để điều chỉnh xã hội đi đúng hướng của nó. 9 luan an Người Thẩm phán phải bênh vực cho người bị hại, không thiên vị hay dao động ý chí trước bất kỳ sự việc nào.
Tất cả những yêu cầu trên sẽ góp phần tạo dựng nên hình ảnh một nghề biểu tượng cho sự khát khao công lý. - Thứ tư là hoạt động xét xử của Thẩm phán tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ do pháp luật quy định. Phán quyết của Thẩm phán có liên quan trực tiếp tới sinh mạng chính trị, quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức có liên quan. Để bảo đảm phán quyết đó thấu tình, đạt lý thì hoạt động xét xử phải tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ.
Việc quy định như vậy tránh sự tuỳ tiện, lạm quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vi phạm các quy định của pháp luật tố tụng, bản án dù có hiệu lực pháp luật cũng sẽ được Toà án cấp trên xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Từ các phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa khái niệm Thẩm phán như sau: Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được phát sinh khi có cáo buộc từ cáo trạng của Viện kiểm sát (VKS) và được thực hiện bởi chức năng của Tòa án trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa nhằm xem xét và giải quyết vụ án hình sự bằng việc ra bản án, quyết định bị cáo có tội hay không có tội, nếu bị cáo có tội thì hội đồng xét xử (HĐXX) sẽ tuyên án và nêu hình phạt kèm theo các biện pháp tư pháp (nếu có) theo quy định của pháp luật.
Xét xử là hoạt động duy nhất chỉ do Tòa án thực hiện còn các cơ quan Nhà nước khác, các tổ chức và cá nhân ngoài Tòa án không có chức năng này, chính vì vậy bản án của Tòa án được đảm bảo thực hiện bởi sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử và đưa ra phán quyết một người có tội hay không có tội, đó là tội gì, hình phạt và các biện pháp xử lý. Vì vậy có thể hiểu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử lần đầu toàn bộ vụ án hình sự theo thẩm quyền mà pháp luật quy định. Theo pháp luật TTHS Việt Nam, thì xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được xác 10 luan an định là một giai đoạn kết thúc một vụ án hình sự, mọi chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra cũng như cáo trạng của Viện kiểm sát đều được xem xét công khai tại phiên toà, những người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận những vấn đề mà trước khi vụ án được đưa ra xét xử không có điều kiện thực hiện.