Chương 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE THÂM QUYEN XÉT XỬ SƠ THÂM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO SỰ VIỆC 1.1 Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thâm các vụ án hình sự theo sự việc Trong lich sử từ xa xưa tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước đã được hình thành. Từ thời cổ đại, chúng ta có thé tìm thay những nét đại cương của nó trong tô chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Hi Lạp, La Mã thời ki cô đại, trong các quan điểm chính trị của Aristote, Polybe. Song tư tưởng này gần như bị lãng quên hoặc không được nhắc đến trong thời kì hưng thịnh của chế độ phong kiến, khi mà chính thể quân chủ chuyên chế chiếm hầu hết ở các nước. Chỉ đến khi quan hệ sản xuất phong kiến tan rã, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện thì tư tưởng phân chia quyền lực được chú ý nhiều hơn.
Nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước (hay còn gọi là nguyên tắc phân quyền) có cơ sở từ thuyết tam quyền phân lập. Thuyết tam quyền phân lập lần đầu tiên xuất hiện bởi nhà tư tưởng Hi Lạp Aristote. Vào thế ki 18, trước yêu cầu cấp bách đặt ra là tổ chức lại bộ máy nhà nước thay cho hình thức quân chủ chuyên chế, nhà tư tưởng vi đại người Pháp Montesquieu đã phát triển thuyết tam quyền phân lập thành một thuyết độc lập, theo đó quyền lực nhà nước phải được phân chia để quyền lực hạn chế quyền lực. Mỗi loại cơ quan Nhà nước chỉ được thực hiện một loại quyền lực dé chúng ràng buộc lẫn nhau, không cho phép cơ quan nào được lạm dụng quyên lực.
Kế thừa hạt nhân hợp lý của học thuyết này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã đưa ra những quan điểm mới về tô chức quyền lực nhà nước. Đó là quyền lực nhà nước thống nhất, không phân chia và thuộc về nhân dân. Nhân dân trao quyền lực ấy cho cơ quan cao nhất là Quốc hội. Tuy nhiên, trong nhà nước pháp quyền, mỗi một loại cơ quan nhà nước có chức năng nhiệm vụ riêng.
Phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhà nước do pháp luật quy định được hiểu là thâm quyền của cơ quan nhà nước đó. Quốc hội có thâm quyên tối cao thực hiện quyền lập pháp và giám sát tối cao; còn cơ quan khác như Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát thực hiện quyền hành pháp và tư pháp. Tòa án là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước. Trong hệ thống cơ quan tư pháp của Việt Nam thì Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp với chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và các vụ việc khác mà pháp luật quy định để bảo vệ pháp luật và sự công bằng xã hội.
Theo quy định tại Điều 127 của Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và Điều 1 Luật Tổ chức TAND 2002 thì Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử mà không có bat kỳ một cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền nay. Nhu vậy, quyền xem xét giải quyết vụ việc hình sự, dân sự, hành chính. và quyền ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó là nội dung quan trọng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành thâm quyén chung của Tòa án. Khái niệm về thắm quyền được khá nhiều tác giả đưa ra với nhiều cách khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam xuất bản năm 1992 thì “thdm quyên ” được hiểu là “quyển xem xét dé kết luận và định đoạt một vấn dé nhất định". Khái niệm “thẩm quyên ” thường được hiểu gan liền với hoạt động của cơ quan, tô chức, hoặc nhân viên Nhà nước. Theo định nghĩa này thì thẩm quyền của Tòa án được hiểu chính là tổng hợp những hành vi pháp lý mà Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo từ điển Luật học thì thâm quyền được hiểu là “tong hợp các quyên và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tô chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định”.
Khái niệm thâm quyền ở đây được hiểu gồm quyền hành động và quyền quyết định. Theo tiến sỹ Nguyễn Văn Huyên, “ẩm quyển là tổng hợp các quyển mà pháp luật quy định cho một tổ chức hoặc một cán bộ, công chức nhà nước được thực hiện công việc trong các lĩnh vực và phạm vi nhất định”. Thạc sỹ Nguyễn Văn Tiến cho rằng “bẩm quyên của Tòa án bao gom thấm quyên xét xử, phạm vi xét xử và quyền hạn quyết định của Tòa án doi VỚI các vu an’. Các khái niệm đưa ra ở trên cho thấy thâm quyên của Tòa án bao gồm hai yếu tô có liên quan chặt chẽ với nhau là thâm quyền về hình thức và thâm quyền về nội dung.
Tham quyền về hình thức là việc xác định Tòa án được xét xử những vụ án nào và xem xét những van đề gì khi xét xử (thâm quyền xét xử, giới hạn và phạm vi xét xử). Thâm quyền về nội dung là quyền hạn giải quyết những van đề về nội dung vụ án đã được xem xét, những van dé bao đảm cho việc xét xử, hoặc các van đề khác của tố tụng hình sự liên quan đến hoạt động xét xử. Ở nước ta, ngành tòa án được tô chức theo đơn vị hành chính lãnh thô. Toà án tối cao xét xử giám đốc thâm, tái thâm, phúc thấm; Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự khu vực vừa có thâm quyền xét xử sơ thâm, vừa có thâm quyền xét xử phúc thâm, tái thâm và giám đốc thâm; Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực chỉ có thẩm quyên xét xử sơ thâm.
Dé phân định thâm quyền xét xử của tòa án các cấp nói trên, cần phải dựa vào một số dấu hiệu của vụ án như tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm, địa điểm phạm tội, người thực hiện tội phạm. Chỉ trên cơ sở xem xét từng dau hiệu mới có thê xác định được thâm quyên xét xử được chính xác. Khi đã xác định đúng thẩm quyên xét xử sơ thâm thi mới có thé dé dàng xác định được thâm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thâm. Vì vụ án chỉ xét xử theo thủ tục phúc thâm, giám đốc thâm, tái thâm khi có kháng cáo, kháng nghị với bản án được giải quyết ở cấp sơ thâm.
Nhu vậy, dé xác định được thâm quyền xét xử phúc thẩm, tái thâm, giám đốc thẩm trước hết phải xác định thâm quyền xét xử sơ thâm. Do đó, việc hiểu về thâm quyền xét xử sơ thâm là cần thiết. Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học hình su, TTHS thì “ Sơ thẩm là xét xử lan đâu dé quyết định tat cả các vấn dé liên quan trong vụ án” Từ những phân tích trên có thể hiểu về thâm quyền xét xử sơ thâm các vụ án hình sự như sau: Tham quyền xét xử sơ thấm các vụ án hình sự là quyền của Tòa án theo quy định của pháp luật được xem xét và giải quyết vụ án hình sự lần đầu đề ra bản án hoặc các quyết định khác. Thâm quyền xét xử bao gồm nhiều nội dung đó là thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ, thâm quyên xét xử theo sự việc, thâm quyền xét xử theo đối tượng.
Trong đó, thâm quyên xét xử theo sự việc là van dé quan trọng giúp phân định thâm quyền xét xử của các cấp Tòa án với nhau. Dé xác định thâm quyền xét xử sơ thầm một vụ án cần phải căn cứ vào ba dấu hiệu sau: Dấu hiệu về lãnh thé là việc xác định thẳm quyền xét xử sơ thâm căn cứ vao nơi tội phạm được thực hiện hoặc nơi kết thúc việc điều tra, để phân biệt thâm quyền của tòa án huyện này với tòa án huyện khác, tòa án tỉnh này với tòa án tỉnh khác cũng như Tòa án quân sự nơi này với Tòa án quân sự nơi khác. Dấu hiệu về đối tượng phạm tội là việc xác định thâm quyền xét xử sơ thầm căn cứ vào các dấu hiệu liên quan đến người phạm tội. Hoặc trong một SỐ trường hợp cụ thể có thé dựa vào việc tội phạm đó gây thiệt hại đến chủ thể nào, thiệt hại cho lĩnh vực nào của đời sống xã hội, dé phân biệt thâm quyền xét xử giữa Toa án quân sự và Tòa án nhân dân, giữa Tòa án quân sự các cap 10 với nhau hay Tòa án đặc biệt.
Nếu đối tượng phạm tội liên quan đến lĩnh vực chuyên môn quân sự thì thẩm quyền xét xử sẽ thuộc về Tòa án quân sự và ngược lại TAND sẽ xét xử những tội phạm không thuộc thâm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Dấu hiệu về sự việc phạm tội là việc xác định thâm quyền xét xử sơ thâm căn cứ vào tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm hoặc vụ án, để phân biệt thầm quyền của Tòa án cấp huyện với Tòa án cấp tỉnh, Tòa án quân sự khu vực với Tòa án quân sự cấp quân khu. Trong các dau hiệu nói trên, xác định thẩm quyền xét xử căn cứ vào dau hiệu về sự việc phạm tội là khó khăn nhất. Vì việc xác định những yếu tố như tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm hoặc vụ án là không dễ, nó thường mang màu sắc chủ quan của nhà làm luật.
Cần phải hiểu tính nghiêm trọng và tính phức tạp của tội phạm là hai mặt của một vẫn đề có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tính nghiêm trọng của tội phạm được hiểu là mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội gây ra cho xã hội, mức độ nguy hiểm cao tương đương với việc gây ra thiệt hại lớn cho xã hội và ngược lại, mức độ nguy hiểm của hành vi thấp sẽ gây thiệt hại ít hơn. Tính phức tạp của tội phạm không thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi mà thé hiện ở khách thé tội phạm, chủ thể tội phạm (người có chức sắc cao, lãnh đạo chủ chét.), co quan tiễn hành tô tung (kha năng điều tra, truy tố, xét xử). Do đó, xác định thâm quyền xét xử căn cứ dấu hiệu này cho thấy tính chất tội phạm, tính phức tạp của vụ án càng cao thì đòi hỏi cấp Tòa án xét xử và trình độ người xét xử phải cao tương ứng.