CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung 1. Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự 1. Trả hồ sơ điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng gồm Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân tuân thủ thực hiện chặt chẽ các trình tự thủ tục tố tụng nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật.
Cơ quan cảnh sát điều tra, VKSND, TAND đều có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định. Tuy nhiên, các cơ quan này phải có mối quan hệ phối hợp, chế ước lẫn nhau trong quá trình giải quyết vụ án để không bị chồng chéo, vụ án được giải quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong thực tiễn, không phải ở giai đoạn tố tụng nào việc điều tra, thu thập và đánh giá chứng cứ cũng đầy đủ, chính xác và đúng trình tự thủ tục luật định. Vì vậy BLTTHS quy định một số điều luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung để các cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào đó mà thực hiện chức năng, nhiệm vụ tố tụng của mình một cách chặt chẽ.
Trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay không có khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Điều 280 BLTTHS năm 2015 chỉ quy định căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Thẩm phán; TTLT số 02/2017 hướng dẫn các căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung quy định tại Điều 280 và khoản 3 Điều 298 BLTTHS năm 2015 khi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Hội đồng xét xử quyết định trong giai đoạn xét xử tại phiên tòa [40, tr. Theo tác giả: “Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là hoạt động tố tụng để cơ 7 n quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền khắc phục, bổ sung làm rõ thêm những chứng cứ quan trọng còn thiếu, hoặc phát hiện có vi phạm thủ tục tố tụng, nhằm giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật, đảm bảo để không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội”. Thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung Theo quy định của BLTTHS năm 2015, nếu vụ án đang trong giai đoạn truy tố thì thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung thuộc Viện kiểm sát; nếu vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì thẩm quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung thuộc Thẩm phán; nếu vụ án trong giai đoạn xét xử thì thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.
Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ vụ án theo Điều 245 BLTTHS, yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp: hồ sơ vụ án còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của BLTTHS mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được; có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng [31, tr. Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố nhằm khắc phục sai sót trong quá trình điều tra, qua đó có thể đủ căn cứ truy tố một người trước Tòa án. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, sau khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung theo Điều 280 BLTTHS, khi thuộc một trong các trường hợp: Khi thiếu những chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của BLTTHS mà không thể bổ sung tại phiên tòa được; có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm; có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội 8 n phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can; việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng [31, tr. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ để điểu tra bổ sung, trong quyết địnhtrả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ vấn đề nào cần phải điều tra bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ vụ án.
Trong giai đoạn xét xử tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thông qua việc xét hỏi kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tranh luận tại phiên tòa nếu phát hiện có những căn cứ tại khoản 1 Điều 280 BLTTHS, đó là khi: thiếu những chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của BLTTHS mà không thể bổ sung tại phiên tòa được; có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm; có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can; việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng … mà không thể khắc phục tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử vào phòng nghị án thảo luận và ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung và cơ quan thụ lý vụ án tự mình bổ sung chứng cứ Là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, sau khi nhận hồ sơ cùng đề nghị truy tố của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát có thể tự mình thực hiện các hoạt động điều tra để bổ sung chứng cứ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Đối với Toà án, sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, nếu việc điều tra chưa đầy đủ, Toà án có các phương án khác nhau để xử lý: 1/ Trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu có căn cứ luật định; 2/ Yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ mà không cần trả hồ sơ; 3/ Tự mình xác minh, thu thập chứng cứ trong trường hợp thiếu các chứng cứ không phải là quan trọng, việc thu thập đơn giản. 9 n Trong trường hợp quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án có căn cứ mà Viện kiểm sát có thể tự bổ sung được, thì Viện kiểm sát tiến hành điều tra theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 236, khoản 1 Điều 246 của BLTTHS năm 2015; trường hợp không thể tự mình bổ sung được thì Viện kiểm sát căn cứ vào các khoản 5 Điều 236, khoản 1 Điều 246 của BLTTHS năm 2015 để trả hồ sơ điều tra bổ sung đúng quy định, đó là ra quyết định trả hồ sơ và chuyển quyết định kèm hồ sơ vụ án cho Cơ quan cảnh sát điều tra.
Trong trường hợp Viện kiểm sát cho rằng quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án không có căn cứ theo quy định tại các điều 3, 5 và 6 của TTLT số 02/2017, thì Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án để đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 246 và khoản 3 Điều 280 của BLTTHS năm 2015. Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Căn cứ vào Điều 277 BLTTHS năm 2015 về thời hạn chuẩn bị xét xử , Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng, tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa. Trong thời hạn luật định, thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: - Trả hồ sơ điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung: để khắc phục, bổ sung và làm rõ thêm những chứng cứ quan trọng còn thiếu mà không thể bổ sung tại phiên tòa được, có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm, hoặc có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án, tránh bỏ lọt tội phạm cũng như làm oan người vô tội. 10 n - Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án: Tạm đình chỉ vụ án: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp: có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 229 BLTTHS; Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án; Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị.
Đình chỉ vụ án: Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS khi không có yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. - Đưa vụ án ra xét xử: để xem xét, đánh giá thực chất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ ra phán xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ từ đó ra bản án hình sự một cách chính xác, công minh, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trước khi đưa vụ án hình sự ra xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa; thành viên Hội đồng xét xử phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án hình sự.