phần Mở đầu và kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương với kết cấu như sau: Chƣơng 1. Nhận thức chung về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Chƣơng 2. Quy định của luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Chƣơng 3. Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 5 CHƢƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNGVỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.
Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố 1. Khái niệm quyền công tố Quyền công tố là một hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng đối với người phạm tội đã được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người. Cùng với thời gian, đến nay, quyền công tố đã trở thành một chế định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong luật tố tụng hình sự (TTHS) ở đa số các nước văn minh trên thế giới.
Theo quy định của Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Viện kiểm sát (VKS) vừa được giao trách nhiệm thực hành quyền công tố, vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra, xét xử có căn cứ và hợp pháp, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. Việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trọng. Giải quyết tốt vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng; xác định rõ chức năng của VKS, đặc biệt là trong TTHS; từ đó có những quyết định đúng đắn về tổ chức VKS các cấp. Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đang triển khai thực hiện các nghị quyết lần thứ 8 khoá VII, lần thứ 3 và thứ 7 khóa VIII của Ban chấp hành trung ương Đảng về cải cách bộ máy nhà nước.
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án" 1. Như vậy, theo từ điển tiếng Việt thì công tố được hiểu với các nội dung khác nhau bao gồm: Điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án. Ở nước ta, thuật ngữ “quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến chức năng của VKSND (Điều 138). Từ đó đến nay, 1 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.
6 có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm và thể hiện quan điểm về quyền công tố với các mức độ khác nhau. Có tác giả đề cập khi giải quyết các vấn đề chung của TTHS, một số bài viết có tính chất chuyên khảo phân tích có hệ thống về quyền công tố và gần đây một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sỹ cũng đề cập quyền công tố trong từng phạm vi khác nhau. Nhìn chung, có thể thấy mỗi quan điểm tuy được lí giải trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn nước ta, dù ít hay nhiều đều có những hạt nhân hợp lí và có những bất cập. Có thể kể đến một số quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất, là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của VKS đều là thực hành quyền công tố.
Với quan điểm này thì công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật 2. Đây là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát từ khi thành lập năm 1960 cho đến khi Luật tổ chức VKSND 2002 được ban hành. Cơ sở cho những lập luận này chính là quy định của các Điều 137 và 138 Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức VKSND các năm 1981 và 1992. Thể hiện rõ nhất quan điểm này tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND 1992 3.
Quan điểm này có trước khi Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS. Quan điểm này cho rằng các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng là thực hành quyền công tố: khi VKS ban hành kiến nghị yêu cầu các Cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội bị kiểm sát sửa chữa, khắc phục vi phạm pháp luật của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế cũng là thực hành quyền công tố. Theo Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 thì VKS có hai chức năng: “Thực hành quyền công tố và Kiểm sát các hoạt động tư pháp” 4. Điều này tiếp tục được khẳng định tại khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013: “VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” 5.
Việc quy định cụ thể, rành mạch hai chức năng của VKSND đã bác bỏ quan điểm nêu trên. Cho dù trong quá trình thực hiện hai chức năng này, chúng tôi thấy rằng có một số nội dung đã đan xen, liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau, nhưng không vì thế mà phủ nhận tính độc lập của chúng cả về nội dung, hình thức và phạm vi áp dụng. Quan điểm thứ hai, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà 2 Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình công tác kiểm sát (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà nội, tr. 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Điều 3.
4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001, Điều 137 5 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013. 7 nước, bảo vệ trật tự pháp luật 6. Quan điểm này được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức của Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, tổng kết các chuyên đề trước đây của VKSND. Quan điểm này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, TTHS, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và ngày nay tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác7.
Theo quan điểm này, khái niệm quyền công tố được xác định là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện theo luật định. Nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định mà VKS có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp. Quyền công tố là một nội dung của hoạt động thực hiện chức năng của VKSND trong lĩnh vực tố tụng dân sự, TTHS và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế thống nhất 8. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và so sánh với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi cho rằng, quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố dẫn đến sự xoá nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa TTHS và các lĩnh vực tố tụng khác.
Đặc trưng của TTHS là phát sinh, tồn tại và chấm dứt không phụ thuộc vào ý chí của những người tham gia tố tụng; còn tố tụng dân sự được tiến hành với nguyên tắc đặc trưng là: quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nên hoạt động tố tụng này phát sinh, tồn tại và chấm dứt phụ thuộc vào ý chí của đương sự. Ý chí, lợi ích của bản thân đương sự là động lực chủ yếu của hoạt động tố tụng dân sự, nó quyết định sự vận động của hoạt động tố tụng. Đồng thời, quan điểm nêu trên đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động. Quan điểm thứ ba, quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội.
Hay nói cách khác, quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự. Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên (KSV) và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định 6 Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), tlđd, tr. 7 Lê Hữu Thể (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb tư pháp, Hà Nội, tr. 8 Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), tlđd, tr.
8 người phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội9. Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc của TTHS: tội phạm khi được thực hiện đều xâm phạm đến lợi ích chung, vì vậy người phạm tội phải bị truy cứu TNHS và bị trừng trị bằng các chế tài hình sự.