Chương 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE QUYET ĐỊNH HÌNH PHAT TU CHUNG THAN VÀ TỬ HINH 1. Khai niệm, ý nghĩa, đặc điểm, nguyên tắc QDHP tù chung thân và tử hình 1. Khái niệm về hình phạt - Khái niệm chung về hình phạt: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đổi với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyên, lợi ích của người, pháp nhân thương mai đó” [25]. Hệ thống Pháp luật nước ta đã quy định nhiều biện pháp cưỡng chế khác nhau như xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính,.
tuy nhiên, nếu xét dưới góc độ trừng trị, trừng phạt thì hình phạt là loại biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất vì hình phạt tước bỏ hoặc hoặc hạn chế quyên, lợi ich của người phạm tội, ví dụ như quyền tự do thân thê hay nặng hơn có thể là quyền được sống — là một trong những quyền quan trọng nhất của con người. Hình phạt được bảo đảm thi hành bằng bộ máy cưỡng chế của Nhà nước Lần đầu tiên, khái niệm hình phạt được quy định trong Điều 26 BLHS 1999, đây là điểm mới so với BLHS 1985, đến BLHS 2015 thì hình phạt được quy định trong BLHS ở cả Phan chung và Phan các tội phạm và do Toà án áp dụng. Việc quy định này không những bảo đảm nhận thức hình phạt trong khoa học, mà còn nhiều mục đích khác như: giáo dục, cải tạo người phạm tội, bảo đảm tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật hình sự, cũng như yêu cầu dau tranh phòng, chống tội phạm. Hình phạt được quy định cụ thể và rõ ràng trong luật, các chủ thể không có quyên thỏa thuận các chế tài khác với quy định của luật như ở một số ngành luật khác (như Hình phạt không thé được áp dụng đối với các thành viên trong gia đình cũng như những người thân khác của người phạm tội, thậm chí cả trong trường hợp người phạm tội trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật), tương tự, luật hình sự Việt Nam không cho phép việc chấp hành hình phạt thay cho người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội cho dù sự chấp hành thay nay là hoàn toàn tự nguyện.
Theo quy định tại Điều 32 BLHS thì hệ thống hình phạt đối với người phạm tội được phân chia thành hình phạt chính (gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam gI1ữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình) và hình phạt bổ sung (gồm: Cam đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Cam cư trú; Quản chế; Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính). Các hình phạt chính được sắp xếp theo một trình tự nhất định từ nhẹ đến nặng và từ ít nghiêm khắc đến nghiêm khắc. Mặc khác, ở nội dung các hình phạt khác nhau có những hình phạt không tước đi sự tự do, điều này đã thể hiện được tư tưởng nhân đạo của nhà nước ta là đi từ việc giáo dục, cải tạo đến trừng tri nghiêm minh đối với người phạm tội theo quy định của Nhà nước. Về bản chất hình phạt không phải là sự trả thù hay loại bỏ một cá nhân, pháp nhân phạm tội nào của nhà nước mà mục đích hướng tới là giáo dục, giúp người phạm tội trở thành một công dân tốt, có thể quay về hòa nhập và trở thành người có ích cho xã hội - Khái niệm về hình phạt tù chung thân Tù chung thân là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt đối với người phạm tội, "Ta chung thân là hình phạt tà không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xu phạt tử hình" [21, tr.
Tu chung thân là hình phat tù không thời han, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích thiết thân của người bị kết án. Người bị két án sẽ bi giam giữ trong cơ sở giam giữ, nơi có chê độ giam giữ và cải tạo rất chặt chẽ và nghiêm khắc. Có nghĩa là, tù chung thân là hình phạt tước đi quyền tự do của người bị kết án đến hết đời, cách ly họ vĩnh viễn khỏi môi trường sống bình thường, hay có thé gọi là tù suốt đời. Tù chung thân được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có thé hiểu là những trường hợp tội phạm xâm hại đến những khách thể rất quan trọng của pháp luật hình sự, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi người phạm tội rất lớn, việc thực hiện tội phạm gây ra hậu quả đặc biệt lớn về an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tính mạng, sở hữu tài sản (theo Điều 9 BLHS hiện hành, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm td, tù chung thân hoặc tử hình).
Tuy nhiên “không áp dụng hình phạt tù chung thân với người đưới 18 tuổi phạm tội” [25] trên co sở phân tích, có thé đưa ra khái niệm hình phạt tù chung thân như sau: Tù chung thân là hình phạt tù tước quyền tự do của người bị kết án đến hết đời, được áp dụng đối với người phạm tội có tính nguy hiểm đặc biệt lớn cho xã hội, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình. Tù chung thân là hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ không có thời hạn, được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình. - Khái niệm về hình phạt tử hình Hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt nước ta, chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một nhóm các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma tuý, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác [25] Và có lịch sử phát triển lâu dài trong quá trình phát triển của xã hội loài người kể từ khi có phân chia giai cấp, có nhà nước và có pháp luật. Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nhằm bảo vệ thành 10 quả của cách mạng, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy định về hình phạt tử hình như Sắc lệnh số 33 ngày 13/9/1945; Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1946; Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/2/1946, Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/4/1948.
theo những văn bản này, nội dung, điều kiện và phạm vi áp dụng hình phạt tử hình quy định chưa rõ rang và cụ thể. BLHS đầu tiên của nước ta năm 1985 quy định cụ thể về hình phạt tử hình với 44 trên tông số 280 điều luật quy định hình phạt tử hình (chiếm hơn 20%). Khi mới ra đời, hình phạt này đã được các nhà nước áp dụng với cường độ rất lớn dé đấu tranh với các loại tội phạm khác nhau nhằm bảo vệ chế độ xã hội và chế độ nhà nước nhất định. Hiện nay, hình phạt tử hình cũng được các quốc gia khác nhau trên thế giới nhìn nhận và đánh giá khác nhau, do vậy có những quan điểm đánh giá khác nhau về việc áp dụng hay không áp dụng hình phạt này.
Dù tại các BLHS trước đây và hiện hành đã có những khái niệm cơ bản về hình phạt tử hình nhưng trong các BLHS đều chưa đề cập cụ thê vấn đề “tước bỏ quyền sống của người bị kết án” trong khái niệm. Do đó khái niệm hình phạt tử hình vẫn còn chưa thật sự rõ nghĩa. Từ những phân tích trên có thé khái quát về hình phạt tử hình như sau: Tử hình là loại hình phạt đặc biệt, và nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bị kết án và chỉ được áp dụng đối với người phạm tội có tính chất nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do BLHS quy định. Hình phạt tử hình được quy định trong luật hình sự và do Tòa án quyết định.
- Khái niệm về QĐHP tù chung thân và tử hình QDHP là hoạt động thực tiễn của Toà án (của HDXX) được thực hiện sau khi đã xác định được tội danh dé tìm ra biện pháp xử lý tương xứng với 11 tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện. Theo tác giả Dinh Văn Quế: “QÐHP là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người kết án phải chấp hành. Toà án lựa chọn loại hình phạt nào, mức phạt bao nhiêu, phải tuân thủ những quy định cua BLHS” [21, tr. Định nghĩa này đã chỉ ra nội dung quan trọng của QDHP là hoạt động của Toa án, là việc Toà án lựa chọn hình phạt, đồng thời chi ra căn cứ pháp ly của QDHP đó chính là các quy định của BLHS.
Tuy nhiên, trong thực tiễn nghiên cứu cũng có tác giả cho răng khái niệm QDHP cần được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Một số ý kiến cho rang, quan điểm về QDHP như trên chỉ là theo nghĩa hep. Còn theo nghĩa rộng thì QDHP bao gồm các hoạt động: xác định người phạm tội có được miễn TNHS hay miễn hình phạt hay không, xác định khung hình phạt, xác định loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt hoặc dưới khung đó. Chúng ta có thé nhận định, QDHP được đặt ra với những trường hợp phạm tội phải chịu TNHS và bị áp dụng hình phạt, và Tòa án sẽ lựa chọn các hình phạt chính và hình phạt bổ sung theo các quy định cụ thể.
Trong đó định khung hình phạt cũng là hoạt động QDHP. Vì thực tiễn xét xử việc áp dụng pháp luật trong xét xử thường thông qua các bước: xác định tội danh, xác định khung hình phạt và cuối cùng là QDHP. Trong đó việc định khung hình phạt được thực hiện ngay sau khi tội danh đã được thực hiện hoàn thành, định tội danh là hoạt động dựa trên cơ sở cau thành tội phạm cơ bản (không xác định tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ). Sau khi đã định tội danh xong, mới phải xác định khung hình phạt nếu điều luật về tội phạm cụ thể quy định nhiều khung hình phạt.
Khi định khung hình phạt, cần dựa vào tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ dé định khung.