CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG GIẢI QUYẾT XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái quát về Thẩm phán trong giải quyết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Khái niệm về Thẩm phán. Lịch sử hình thành, xây dựng và phát triển hệ thống Tòa án nhân dân ở nước ta đặt trong lịch sử hình thành và phát triển Nhà nước ta, điều đó cho thấy sứ mệnh của Tòa án nhân dân gắn liền với sứ mệnh của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phát triển các quy định của các bản Hiến pháp trước, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, Hiến pháp năm 2013 quy định“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.” Khi nhắc đến Tòa án nhân dân thì điều đầu tiên phải nói đến Thẩm phán vì thực hiện nhiệm vụ xét xử của Tòa án phải thông qua hoạt động thực hiện nhiệm vụ của Thẩm phán. Trong Tòa án, chỉ có Thẩm phán thực hiện hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Thẩm phán là nhân tố rất quan trọng trong hoạt động xét xử. Ở nước ta do trình độ dân trí còn thấp, khái niệm Thẩm phán còn xa lạ đối với một số tầng lớp nhân dân.
Còn nhiều người hiểu nhầm Thẩm phán là luật sư hoặc là một chức danh khác nào đó của cơ quan hành pháp trong bộ máy nhà nước. Thậm chí kể cả trong nhận thức của những người đang là công chức, viên chức nhà nước cũng nhận thức không rõ được hoặc không phân biệt được Thẩm phán là ai, có nhiệm vụ gì và họ làm việc ở đâu? Thực tế cho thấy, chỉ trong 12 trường hợp cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào có liên quan đến một vụ án cụ thể nào đó, thì lúc này họ mới tìm hiểu một cách sơ lược về vị trí vai trò của Thẩm phán. Điều này cho thấy xã hội còn chưa quan tâm đúng mức đến vị trí, vai trò của Thẩm phán, ngay cả những người làm việc tại các cơ quan công quyền cũng chưa hẳn đã nhận thức đúng và đủ về vấn đề này. Thẩm phán với tư cách là người đại diện cho Nhà nước, họ được pháp luật quy định quyền ban hành các quyết định công nhận, hướng dẫn, dẫn dắt và quyết định các vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức.
Tại phiên tòa, với vai trò là người điều khiển phiên tòa, hướng dẫn cho những người tham gia tố tụng trong vụ án thực hiện quyền tranh tụng đúng pháp luật. Đặc biệt trong các vụ án hình sự, vai trò của Thẩm phán xét xử được thể hiện rõ nét nhất. Chính tại phiên tòa, nơi diễn ra tất cả các quy trình của sự tranh tụng, Thẩm phán là người điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng để việc tranh tụng diễn ra một cách tôn nghiêm, có trật tự, đi đúng vào trọng tâm của vụ án. Để từ đó, các chứng cứ, các sự thật khách quan của vụ án đều được đưa ra làm rõ tại phiên tòa.
Trên cơ sở tranh tụng khách quan, hội đồng xét xử (HĐXX) sẽ áp dụng pháp luật một cách đúng đắn để đưa ra một bản án với các quyết định hợp tình, hợp lý nhất. Với các quyết định của mình, cùng với các cơ quan liên quan, Thẩm phán đã góp phần định hướng cho xã hội phát triển. Nếu nhìn nhận dưới góc độ xã hội, Thẩm phán được xem như là một nghề nghiệp, với sự phân công của xã hội thì Thẩm phán thực hiện nghề xét xử. Về khái niệm Thẩm phán, theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002, Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án”.
Với cách hiểu này, Thẩm phán là người thực hiện nhiệm vụ xét xử và quyền tư pháp. Chức năng xét xử của Tòa án được thực 13 hiện thông qua hoạt động xét xử của Thẩm phán, bằng việc ra bản án hoặc quyết định nhân danh nhà nước, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thay mặt hội đồng xét xử tuyên án hoặc các quyết định nhân danh nhà nước. Như vậy, trước tiên nhắc đến Thẩm phán là nói đến người làm nhiệm vụ xét xử, công việc xét xử cũng được coi là một nghề. Nghề xét xử này được thực hiện để đảm bảo việc thực thi công lý, đảm bảo sự ổn định an ninh chính trị, bảo đảm tính pháp quyền của nhà nước.
Để làm công việc này Thẩm phán dựa phải trên cơ sở các nguyên tắc của pháp luật quy định để thực hiện việc xét xử. Thẩm phán được hiểu theo nghĩa chung là một chức danh tư pháp. Cho đến nay ở nước ta chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước quy định về khái niệm chức danh tư pháp. Có quan điểm cho rằng những người nào trực tiếp thực hiện quyền lực tư pháp thì mới là chức danh tư pháp.
Trong các chức danh tư pháp thì Thẩm phán được xác định là một chức danh tư pháp quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền tư pháp. Trong hệ thống Tòa án nhân dân, đội ngũ Thẩm phán là lực lượng lao động nòng cốt, kết quả công tác của Thẩm phán quyết định hiệu quả của hệ thống Tòa án nhân dân trong thực hiện quyền tư pháp, bởi không phải Tòa án hoặc một chức danh tư pháp nào khác mà chỉ có Thẩm phán, Hội đồng xét xử mới nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp. Tại lời nói đầu của Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán được Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia ban hành năm 2018 xác định: “Thẩm phán là người được Chủ tịch nước bổ nhiệm để nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp. Trọng trách của Thẩm phán rất nặng nề, sứ mệnh của Thẩm phán rất cao quý.
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và Nhân dân yêu cầu các Thẩm phán phải thực hiện nhiệm vụ một cách vô tư, khách quan, thượng tôn pháp luật; đòi hỏi các Thẩm phán phải trở thành biểu 14 tượng của đạo đức thanh liêm, tuân thủ những nguyên tắc của Hiến pháp về hoạt động tư pháp, thực hiện được lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thẩm phán phải “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” và “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”. Với sự phát triển của nền tư pháp Việt Nam, khái niệm về Thẩm phán đã xuất hiện và được hoàn thiện dần theo theo thời gian. Tới quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Thẩm phán là người có kiến thức về pháp luật cũng như kinh nghiệm công tác pháp luật, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và phải trải qua kỳ thi tuyển Thẩm phán.
Giai đoạn xét xử là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình tố tụng. Do vậy, người Thẩm phán phải thực sự nghiêm minh và sáng suốt, để có thể đưa ra một quyết định đúng đắn. Trong hệ thống người tiến hành tố tụng, Thẩm phán là người có địa vị pháp lý đặc biệt, hoàn toàn khác so với những người tiến hành tố tụng còn lại. Để trở thành Thẩm phán thì phải có đầy đủ các điều kiện sau: - Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chư nghĩ Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực; - Có trình độ cử nhân luật trở lên; - Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử; - Có thời gian làm công tác thục tiễn pháp luật.; - Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao; Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân hiện hành, Tòa án nhân dân được tổ chức bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, tòa án nhân dân cấp cao, tòa 15 án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự.
Tương ứng với các cấp Toà án, Thẩm phán làm việc tại các cấp Toà án bao gồm Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp. Dù kinh qua các điều kiện làm việc từ đơn giản đến phức tạp, trong chiến tranh, ở thời bình hay trước yêu cầu hội nhập sâu rộng, sứ mệnh nhân danh Nhà nước đã được các thế hệ Thẩm phán trong hệ thống Tòa án nhân dân đảm nhận và khẳng định, như trong lời phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị triển khai công tác Tòa án năm 2019 là “…Những đóng góp bền bỉ, thầm lặng của các thế hệ cán bộ, Thẩm phán đã làm nên truyền thống tốt đẹp của ngành Tòa án; luôn được Đảng, Nhà nước, nhân dân ghi nhận và trân trọng…”. Thẩm phán trong giải quyết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Giai đoạn xét xử sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên.
Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ở Việt Nam là các Toà án cấp huyện, Toà án cấp tỉnh, Toà án quân sự khu vực, Toà án quân sự cấp quân khu. Xét xử sơ thẩm được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra, truy tố thu thập trong quá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận chất vấn những điều mà tại Cơ quan điều tra họ không có điều kiện thực hiện; tại phiên toà quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tồ tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất.