Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý về quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Thực trạng quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ và những kiến nghị, giải pháp. 10 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.
Khái niệm quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: “Quyền là một khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế”. Như vậy, quyền phải có sự thừa nhận về mặt pháp lý và được đảm bảo thực hiện bởi các quy định của pháp luật. Quyền phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với các chủ thể cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định.
Khi nghiên cứu vấn đề quyền con người, một khái niệm được đề cập nhiều và có liên quan trực tiếp với khái niệm này là khái niệm quyền công dân. Xét về nguồn gốc, quyền công dân xuất hiện muộn hơn, là một trong những thành tựu của nhân loại trong cuộc cách mạng tư sản đấu tranh chống lại chế độ phong kiến. Hiện nay, trên diễn đàn khoa học vẫn tồn tại một số khái niệm khác nhau về quyền công dân: Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì quyền công dân là: “Quyền của người công dân được thừa nhận, bao gồm quyền tự do dân chủ và các quyền về kinh tế - văn hóa xã hội”. Ý kiến khác cho rằng quyền công dân là những bảo đảm từ phía Nhà nước: "quyền công dân - đó là sự thể chế hóa về mặt nhà nước bằng pháp luật địa vị con người trong khuôn khổ nhà nước, là sự thừa nhận, trong chừng mực mà nhà nước chấp nhận, địa vị con người của cá nhân trong 11 nhà nước”.
Có tác giả đề xuất cần có sự kết hợp giữa quyền tự nhiên và quyền xã hội khi đưa ra định nghĩa về quyền công dân, rằng “Quyền công dân là tập hợp những quyền tự nhiên được pháp luật của một nước quy định, mà tất cả những người có chung quốc tịch của nước đó được hưởng một cách bình đẳng”. Mặc dù tiếp cận và diễn đạt khác nhau nhưng các quan niệm trên đây đều nhận định quyền công dân là những quyền của cá nhân con người được ghi nhận bằng pháp luật và Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm thực hiện các quyền đó cho các cá nhân với tư cách là công dân của một nước. Quyền con người là khái niệm rộng và có thể tiếp cận ở những góc độ khác nhau. Dưới góc độ khoa học pháp lý, quyền con người có thể chia theo các nhóm tương ứng với các lĩnh vực của đời sống.
Đó là: Nhóm quyền về chính trị: gồm các quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; quyền bình đẳng nam, nữ; quyền tự do ngôn luận; tự do báo chí; quyền được thông tin; quyền tự do tín ngưỡng; quyền lập hội, quyền hội họp, quyền biểu tình, quyền khiếu nại, tố cáo… Nhóm các quyền về dân sự: bao gồm các quyền về tự do cá nhân, quyền tự do cư trú, tự do đi lại, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được luật pháp bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện báo, quyền khiếu nại, tố cáo. Nhóm các quyền về kinh tế - văn hóa - xã hội: quyền học tập; quyền lao động; quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu hợp pháp và thừa kế; quyền học tập; quyền nghiên cứu, phát minh, sáng chế; quyền được bảo vệ sức khỏe; quyền được bảo vệ hôn nhân và gia đình. Quyền con người và quyền công dân có quan hệ chặt chẽ với nhau. Quyền con người được áp dụng cho tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phân biệt quốc tịch, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia hay tư cách cá nhân của chủ thể, thể hiện mối quan hệ 12 giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại.
Trong khi đó, khái niệm quyền công dân thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với tư cách là công dân mang quốc tịch của quốc gia đó với Nhà nước, tức là nhấn mạnh đến khía cạnh pháp lý của mối quan hệ. Có thể khẳng định quyền con người là khái niệm rộng hơn quyền công dân, xuất hiện sớm hơn quyền con người nhưng quyền công dân là nội dung của quyền con người được hiện thực hóa và bảo đảm thực hiện ở một quốc gia trong những thời điểm cụ thể. Quyền con người (human rights) là giá trị cao quý, kết tinh từ văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng nói chung, sản phẩm chung, mục tiêu chung, phương tiện chung của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới để bảo vệ, thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của con người. Nó không còn là nhận thức mà được thể hiện bằng quy phạm pháp lý được các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hướng đi tất yếu của xã hội loài người cũng như hình thành các cơ chế bảo đảm để quyền con người được thực thi trên thực tế.
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau (theo một tài liệu của Liên hợp quốc, có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố). Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người. Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu. Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.
13 Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn, theo đó, quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội…; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người. Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên (natural rights). Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người.
Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng, bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử. Có thể nói, quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý… Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác nhau. Một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên: Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người.
Ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc thường xuyên được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người. Ở Việt Nam, đã có nhiều tác phẩm phân tích về vấn đề quyền con người. Trong tác phẩm Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả định nghĩa quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, 14 vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật.
Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do…; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người. Từ khái niệm chung về quyền con người ở trên, có thể đưa ra khái niệm quyền con người trong tố tụng hình sự như sau: Quyền con người trong tố tụng hình sự là những điều mà bất cứ ai (không phân biệt giới tính, độ tuổi, dân tộc, quốc tịch, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xã hội…) khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự đều được hưởng, được làm và được đòi hỏi. Bảo đảm quyền con người và quyền công dân là một vấn đề lớn, phức tạp cả về mặt lý luận và thực tiễn.