mở đầu một giai đoạn tố tụng mới, đó là giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự. Xét về mặt nội dung thì bản luận tội không những là căn cứ để bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về toàn bộ vụ án mà Viện Kiểm sát nhân dân đã truy tố trước Tòa án, là cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định việc đưa ra phán quyết của mình đối với người phạm tội và toàn bộ vụ án theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Như vậy, qua phân tích đánh giá các quan điểm về luận tội nêu trên, đồng thời phân tích các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, theo chúng tôi luận tội được hiểu là: hoạt động nghiệp vụ do Kiểm sát viên thực hiện dựa trên những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự và những người tham gia tố tụng khác (nếu có) tại phiên tòa; từ đó Kiểm sát viên đại diện cho Viện Kiểm sát nhân dân trình bày quan điểm, đường lối giải quyết vụ án, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung của bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng; kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật. Đặc điểm Hoạt động luận tội tại phiên tòa xét xử án hình sự sơ thẩm có một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất: Phải đảm bảo quyền bình đẳng giữa Kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng khác.
Hội đồng xét xử phải tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng trình bày đầy đủ ý kiến của mình và Hội đồng xét xử 11 luan an phải chú ý lắng nghe và tôn trọng lẽ phải của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố qua lời trình bày luận tội, những căn cứ để luận tội những người tham gia tố tụng khác. Thứ hai: Hội đồng xét xử phải bảo đảm luận tội giữa Kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng khác, hoạt động tranh tụng nói chung và hoạt động luận tội nói riêng là trọng tâm của Hội đồng xét xử. Các bên tranh luận bình đẳng với nhau về quyền đưa ra tài liệu, chứng cứ, yêu cầu; đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng của mình; bình đẳng trong đối đáp, tranh luận, chứng minh, bác bỏ quan điểm lẫn nhau và Kiểm sát viên cũng đưa ra những quan điểm, luận cứ của mình nhằm luận tội các trường hợp phạm tội. Do đó quyền bình đẳng giữa bên bào chữa và bên buộc tội được hiểu là bình đẳng trên phương diện tố tụng khi tham gia phiên tòa, đều được pháp luật quy định để thực hiện các chức năng của mình.
Thứ ba: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử phải có phương pháp điều hành hợp lý, tạo điều kiện cho Kiểm sát viên thực hiện việc luận tội theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, được tranh tụng với các bên trong trình bày luận tội. Kiểm sát viên tham gia luận tội với tinh thần trách nhiệm, trên cơ sở chứng cứ khách quan và qui định của pháp luật; với tinh thần tôn trọng luật pháp, tôn trọng các bên liên quan, có văn hoá ứng xử đi sâu vào nội dung vụ án. Kiểm sát viên phải trả lời trực tiếp, không được né tránh nhằm đảm bảo tính minh bạch trong luận tội. Toà án có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện, thực thi các qui định của pháp luật theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự để Kiểm sát viên luận tội.
Thứ tư: Bản án và quyết định của Toà án phải căn cứ vào kết quả luận tội tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các luận điểm, luận cứ và luận chứng của Kiểm sát viên tham gia luận tội, của các bên liên quan tham gia tranh luận. Tại phiên tòa kết quả có thể khác với toàn bộ hoặc một số tình tiết 12 luan an cụ thể trong kết luận điều tra, trong bản cáo trạng đã truy tố. Vì Hội đồng xét xử được coi là khâu quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình tố tụng và là hoạt động đặc trưng cho toàn bộ hoạt động của Tòa án. Quá trình xét xử phiên tòa hình sự sơ thẩm đươc tổ chức và thực hiện một cách chặt chẽ theo một trình tự, thủ tục nghiêm ngặt.
Phần luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa năm trong nội dung tranh luận và thường thu hút sự chú ý đặc biệt của công chúng và quan tâm nhiều đến vấn đề các cơ quan và người tham gia, người tiến hành tố tụng thực hiện pháp luật như thế nào, để đảm bảo tính công khai của Bản án trong qua trình luận tội, tránh việc nghi ngờ, chê trách nếu bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị cấp phúc thẩm cải, sửa hoặc hủy án. Qua đó chứng tỏ luận tội của cấp có án bị hủy là thực hiện luận tội chưa được tốt theo yêu cầu đổi mới về cải cách tư pháp. Ý nghĩa Phiên tòa hình sự sơ thẩm có sự tham gia đầy đủ của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng với địa vị pháp lý được xác định. Thông qua phiên tòa, bằng thủ tục trực tiếp, công khai, qua nghe ý kiến và đề xuất của các bên tham gia tố tụng, tòa án (với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng quan trọng nhất) tiến hành xác định sự thật khách quan của vụ án và ra các phán quyết giải quyết vụ án một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan và đúng pháp luật [13].
Pháp luật tố tụng hình sự quy định cho Kiểm sát viên có quyền đưa ra chứng cứ buộc tội và người bào chữa đưa ra chứng cứ gỡ tội tranh luận với Kiểm sát viên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo tại phiên tòa. Vậy có thể hiểu rằng, luận tội bao giờ cũng gắn liền với hoạt động tài phán của Tòa án. Đảm bảo tốt hoạt động luận tội và thông qua hoạt động luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, sẽ tạo cơ sở cho Tòa án (Hội đồng xét xử) đánh giá kết quả của những hoạt động tố tụng trước đó, đồng thời giúp cho 13 luan an việc xét xử được chính xác. Hoạt động luận tội tại phiên tòa còn có ý nghĩa đảm bảo việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Thông qua luận tội, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm được làm sáng tỏ và cùng với kiến nghị, những bài học kinh nghiệm rút ra từ vụ án, lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa có tác động rất lớn đến người phạm tội trong cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung. Ngoài ra luận tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm còn có ý nghĩa tuyên truyền giáo dục pháp luật một cách sâu rộng đối với quần chúng nhân dân đến tham dự phiên tòa. Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn xét xử, luận tội tại phiên tòa là giai đoạn mà Kiểm sát viên tham gia luận tội tìm mọi cách để thuyết phục, thu hút sự đồng tình ủng hộ của quần chúng nhân dân đối với quan điểm, ý kiến, lập luận của mình đưa ra. Các ý kiến, lập luận đưa ra nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ án, các quy định của pháp luật liên quan, qua đó mỗi người dân tham dự phiên tòa tự nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của mình.
Thực tiễn đối với những vụ án xác định là án trọng điểm, phức tạp được Tòa án nhân dân xét xử lưu động tại các địa phương, có sự luận tội giữa các bên đã đạt được mục đích nhằm tuyên truyền và giáo dục ý thức pháp luật của đông đảo quần chúng nhân dân. Đây là một hình thức tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật thiết thực và hiệu quả nhất trong đời sống xã hội hiện nay. Vì vậy, để luận tội đạt được ý nghĩa pháp lý, chính trị - xã hội nêu trên thì trách nhiệm của người Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là rất lớn. Bởi phần luận tội được trình bày tại phiên tòa không chỉ vừa phải đảm bảo được tính có căn cứ và tính thuyết phục cao đối với Hội đồng xét xử, bị cáo, người tham gia tố tụng mà còn phải đảm bảo được tính có căn cứ và tính thuyết phục cao đối với cả những người tham dự phiên tòa.
Mà đa số thành phần những người tham dự này là những người dân chưa hiểu sâu và nắm rõ về pháp luật. Cơ sở pháp luật và nội dung hoạt động luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 1. Cơ sở pháp luật hoạt động luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 1. Quy định của Hiến pháp sửa đổi năm 2013 Theo quy định Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Xác định tầm quan trọng của hoạt động luận tội tại phiên tòa, Điều 103 khoản 5 của Hiến pháp 2013 và Điều 13 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định “Nguyên tắc tranh luận trong xét xử được bảo đảm”. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh luận trong xét xử. Từ những quy định của Hiến pháp và pháp luật cho thấy, vấn đề luận tội nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã được hết sức coi trọng.
Đây là một trong những đổi mới lần đầu tiên Hiến pháp ghi nhận nguyên tắc bảo đảm luận tội trong xét xử. Hoạt động tư pháp được Đảng và Nhà nước ta chú trọng ngay trong những năm đầu mới giành được chính quyền.