Chương 1 LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG CẢI CÁCH TƯ PHÁP 1. Cải cách tư pháp ở Việt Nam 1. Quan niệm, ý nghĩa, mục tiêu của cải cách tư pháp 1. Quan niệm về cải cách tư pháp Lý thuyết và thực tiễn ở các nước văn minh, tiến bộ và phát triển cao cho thấy tư pháp độc lập là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của Nhà nước pháp quyền và của nền tư pháp dân chủ, bình đẳng và công bằng và bảo vệ hữu hiệu các quyền con người, quyền công dân.
“Tư pháp” (theo tiếng Latinh cổ “Justitia” hay “Justition”) có nghĩa là “công lý”, “công bằng”, “pháp chế”, đồng thời dưới góc độ hẹp nội dung bao gồm toàn bộ các cơ quan Tòa án và hoạt động thực hiện quyền xét xử của những cơ quan này. Hiện nay, quan điểm và nhận thức về “tư pháp” được xem xét dưới nhiều khía cạnh khoa học và thực tiễn khác nhau. Ở Việt Nam tồn tại khá nhiều cách hiểu khác nhau về tư pháp, theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học của nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2002 do GS. Hoàng Phê chủ biên thì thuật ngữ “ tư pháp” được hiểu là “ Việc xét xử các hành vi phạm pháp và các vụ kiện tụng trong nhân dân” [32].
Theo quan điểm của GS. Nguyễn Đăng Dung thì “ tư pháp là một lĩnh vực quyền lực Nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật” [33]. 10 Luan van Theo TS. Đinh Văn Ân, TS.
Võ Trí Thành quan niệm “ tư pháp” được hiểu theo ba khía cạnh: Về khía cạnh pháp lý, được quan niệm như là một ý tưởng cao đẹp về một nền công lý, giải quyết các tranh chấp trong xã hội đúng với pháp luật, hợp lẽ công bằng; các biểu hiện của một giá trị về lòng tin của nhân dân vào pháp luật. Về khía cạnh thể chế nhà nước, tư pháp được sử dụng để chỉ một quyền lực trong ba quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Trong việc xác định ba quyền, quyền tư pháp được xem là đồng nghĩa với quyền xét xử, một hoạt động duy nhất chỉ do Tòa án thực hiện. Về khía cạnh khoa học tổ chức, tư pháp được sử dụng để nói về tổ chức tư pháp, một tập hợp của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức, nhiều chức danh liên quan đến công tác xét xử [25].
Tóm lại: Tư pháp là một hoạt động nhân danh công lý của Tòa án để giải quyết các tranh chấp trong xã hội đúng với pháp luật, hợp lẽ công bằng và được coi là quyền xét xử của Tòa án. Theo đó, tư pháp trong nhà nước pháp quyền đòi hỏi Tòa án với tư cách cơ quan thực hiện chức năng xét xử cần có những phán quyết chính xác, công bằng, một mặt nhằm bảo vệ những giá trị cao quý nhất của xã hội tránh khỏi sự xâm phạm của các vi phạm pháp luật đi ngược lại lợi ích của xã hội, của nhân dân và Tổ quốc. Vậy cải cách tư pháp là gì: Cải cách tư pháp được hiểu là việc tiến hành những cải cách trên lĩnh vực tư pháp nhằm xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân và công dân. Cải cách tư pháp phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, sự giám sát của các cơ quan dân cử và nhân dân, bảo đảm ổn định chính trị, bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và 11 Luan van kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, cải cách tư pháp vẫn tiếp tục được duy trì và là một yêu cầu không thể thiếu trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động xét xử của Tòa án được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao, cải cách tư pháp sẽ khắc phục những bất cập, hạn chế của công tác tư pháp nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Kể từ Đại hội lần thứ VI (năm 1986) của Đảng ta, chủ trương đổi mới toàn diện đất nước được đặt ra và triển khai. Cải cách tư pháp là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết và mang tính quy luật để có thể thích ứng với những đổi mới về văn hóa, kinh tế, xã hội, hệ thống chính trị; v.
Do đó, vấn đề này đã chính thức được đặt ra tại các Đại hội sau đó của Đảng, đồng thời đã được đánh dấu và ghi nhận trong các Nghị quyết 8 Trung ương khóa VII, Nghị quyết 3 và Nghị quyết 7 Trung ương khóa VIII và đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” [22]. Trong những năm vừa qua, bên cạnh những kết quả đạt được, tiến trình cải cách tư pháp của nước ta vẫn còn chậm so với yêu cầu của thực tiễn, còn thiếu sự quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và cơ sở vật chất. Chính sách hình sự, các chế định pháp luật dân sự có nhiều thay đổi 12 Luan van nhưng vẫn còn bất cập, chưa theo kịp quá trình đổi mới của xã hội. Hoạt động của cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, chưa bắt kịp và phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội.
Ngoài ra, vẫn còn tồn tại tình trạng bỏ lọt tội phạm, oan, sai trong việc điều tra, truy tố và xét xử, tình trạng khiếu nại, tố cáo các công chức vi phạm pháp luật vẫn còn, công tác thi hành án vẫn chưa chuyển biến đáng kể. Còn một bộ phận đội ngũ cán bộ tư pháp trình độ năng lực còn yếu, sa sút về phẩm chất đạo đức. Vì vậy, với yêu cầu phát triển và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định: Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Các nội dung cụ thể thực hiện để cải cách tư pháp là: Một là, cải cách tư pháp cần phải được tiến hành tổng thể trong việc cải cách bộ máy nhà nước, cũng như trong mối liên hệ mật thiết và đồng bộ với cải cách hành chính.
Quá trình cải cách đó không thể tách rời việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Hai là, cải cách tư pháp phải hướng tới việc thực hiện đầy đủ các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động tư pháp như: mỗi cơ quan thực hiện từng khâu của tiến trình tố tụng phải chịu trách nhiệm độc lập về kết luận của mình; bảo đảm tính khách quan của việc xét xử Ba là, cần thực hiện tốt và nghiêm túc các nhiệm vụ cải cách tư pháp, đó là hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ 13 Luan van chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân; hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch vững mạnh; hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp; tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp; bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp. Về cơ quan tư pháp: Lịch sử khoa học pháp lý chứng minh rằng, có nhiều luật gia, nhà nghiên cứu đã tiếp cận ý nghĩa đích thực của cơ quan tư pháp theo nghĩa hẹp C.Montesquieu- người được coi là “ cha đẻ” của học thuyết “ tam quyền phân lập” trong tác phẩm tinh thần pháp luật ( 1748) chỉ ra rằng: Với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân.
Người ta gọi đây là quyền tư pháp. Theo ông, quyền phán xét không nên giao cho một Viện nguyên lão thường trực mà phải do những người trong đoàn thể dân chúng được cử ra từng thời gian trong một năm, do luật quy định thành Tòa án, làm việc kéo dài bao lâu tùy theo sự cần thiết [31]. Theo Montesquieu thì cơ quan tư pháp chính là Tòa án, cơ quan xét xử thực hiện nhánh quyền lực tư pháp. Tiếp nối những tư tưởng của Montesqieu, mười bốn năm sau, trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội ( 1762), J.
Rousseau đã viết: Khi người ta không thể định rõ một tỷ lệ chính xác giữa các bộ phận cấu thành của nhà nước hoặc khi mà những nguyên nhân khách quan làm suy yếu không ngừng mối quan hệ giữa các bộ phận ấy, thì người ta phải đặt một cơ quan đặc biệt, không tham dự vào bất cứ một bộ phận nào. Cơ quan này đặt mỗi bộ phận vào đúng vị trí của nó, làm sợi dây liên lạc và yếu tố trung 14 Luan van gian giữa Chính phủ với nhân dân, hoặc giữa chính phủ với cơ quan quyền lực tối cao, hoặc giữa cả ba vế ấy khi cần. Cơ quan này gọi là cơ quan tư pháp [34]. Với quan niệm giống như Montesqieu, Rousseau cũng cho rằng, nói đến cơ quan tư pháp phải hiểu đó là Tòa án, là hoạt động xét xử.