Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1. QUY ĐỊNH VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ TỪ N ĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI CÓ BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1985 Trước khi BLHS đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được ban hành thì tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ chưa được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật nào mà chỉ được quy định rải rác trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Cũng như khái niệm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công ụv chưa được quy định. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, mặc dù còn bề bộn nhiều công việc trọng đại của đất nước nhưng Nhà nước ta đã rất chú trọng đến việc quản lý xã hội bằng pháp luật nhằm góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Ngày 10 tháng 10 năm 1945 Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 47 về việc "giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam Bộ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn quốc". Trong lĩnh vực hình sự, theo quy định của sắc lệnh này thì các đạo luật của chính quyền cũ tạm thời được giữ lại và được phép thi hành nếu những điều khoản trong các luật lệ cũ "không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa " [6, Điều 12]. Theo đó trong ĩnh l vực hình sự có 3 đạo luật tạm thời được giữ lại và thi hành đó là: Bộ "Luật Hình An Nam" ban hành năm 1921 được thi hành ở Bắc Bộ; Bộ "Hoàng Việt Hình Luật" ban hành năm 1933 đư ợc thi hành ở Trung Bộ; Bộ "Hình pháp tu chỉnh" ban hành năm 1912 được thi hành ở Nam Bộ. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong thời kỳ này, để đảm bảo uy tín của cán bộ, công chức Nhà nước và cơ quan nhà nước, bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tập thể và công dân, bảo đảm cho các cơ quan nhà nước hoạt động đúng đắn và chống tội phạm trong lĩnh vực này, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự về các tội phạm chức vụ.
Ví dụ: Sắc lệnh số 223-SL ngày 17 tháng 11 năm 1946 của Chủ tịch nước trong đó quy định: Tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ, hoặc phù lạm hoặc biển thủ công quỹ đều bị phạt khổ sai từ 05 năm đến 20 năm và phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ, phù lạm hay biển thủ. Tang vật hối lộ bị tịch thu sung công. Người phạm tội còn có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản… [7]. Trong sắc lệnh này cũng đã đưa ra khái niệm về người có chức vụ.
Điều 3 của sắc lệnh quy định: "Công chức gồm nhân viên trong Chính phủ, trong các Ủy ban hành chính các cấp, các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong bộ đội và tất cả các người phụ trách một công vụ" [7, Điều 3]. Ngày 23 tháng 5 năm 1981, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ gồm 13 điều luật, trong đó quy định tương đối cụ thể về dấu hiệu đặc trưng của các tội nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ và lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi, quy định về các trường hợp tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt, quy định về hình phạt, về việc xử lý của hối lộ, xử lý hành vi trả thù người tố giác… Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ là công cụ pháp lý quan trọng góp phần đấu tranh có hiệu quả với tội hối lộ trong thời gian đó. Ngoài ra trong th ời gian này còn có Sắc lệnh số 200/SL ngày 08 tháng 7 năm 1948 của Chủ tịch nước coi công chức trong thời kỳ kháng chiến như bị trưng tập (liên quan đến tội đào nhiệm); Sắc lệnh số 154-SL ngày 17 tháng 11 năm 1950 của Chủ tịch nước ấn định những hình phạt trừng trị việc để tiết lộ 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bí mật (liên quan đến tội cố ý làm lộ bí mật công tác và tội vô ý làm lộ bí mật công tác); Sắc lệnh số 267/SL ngày 15 tháng 6 năm 1956 của C hủ tịch nước quy định trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước và của nhân dân, cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước (liên quan đến tội thiếu tinh thần trách nhiệm); Sắc luật số 03/SL/1976 được Hội đồng chính phủ cách mạng lâm thời ban hành ngày 15 tháng 3 năm 1976 quy định tội phạm và hình phạt trong đó quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn và quy định tội đưa và nhận hối lộ, tuy nhiên Sắc luật không mô tả dấu hiệu pháp lý của tội phạm, không quy định tình tiết tăng nặng và không quy định hình phạt bổ sung… Qua việc Nhà nước ban hành một số các sắc lệnh như trên có thể thấy ngay từ những năm đầu của chính quyền cách mạng, Nhà nước ta đã thể hiện thái độ đấu tranh không khoan nhượng đối với loại tội này. Tuy nhiên, trong tất cả các văn bản pháp luật chưa có văn bản nào quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, mà hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ chỉ được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ví dụ: tại khoản 4 Điều 19 của Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30 tháng 10 năm 1967 quy định: "lợi dụng chức quyền để hoạt động phản cách mạng là trường hợp cần xử phạt nặng" '[54]; hay trong bản tổng kết ngày 10 tháng 8 năm 1970 của Tòa án nhân dân tối cao về thực tiễn xét xử loại tội giết người cũng quy định: lợi dụng chức vụ, quyền hạn để giết người là tình tiết tăng nặng.
Tóm lại, pháp luật hình sự thời kỳ này về cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ cách mạng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo hoạt động của các cơ quan nhà nước , tổ chức có hiệu quả. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên việc quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ còn có nhiều hạn chế. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ không được quy định trong bất cứ 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn bản pháp luật nào; hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ chỉ được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Các tội phạm về chức vụ nói chung nếu có được quy định thì cũng nằm trong nhiều văn bản pháp luật đơn hành khác nhau, các dấu hiệu pháp lí, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ chưa được quy định cụ thể, chưa quy định về khái niệm "tội phạm chức vụ", còn khái niệm người có chức vụ mặc dù đã được quy định cho một số tội phạm cụ thể như nhận hối lộ, biển thủ công quỹ… nhưng nhìn chung chưa cụ thể. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1985 VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ Ngày 27 tháng 6 năm 1985, BLHS đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được Quốc hội thông qua, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng về sự phát triển của pháp luật hình sự nước nhà và là cơ sở pháp lý để thực hiện việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả.
BLHS năm 1985 ra đời trên cơ sở tổng kết, kế thừa kinh nghiệm lập pháp hình sự và kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong những năm trước đây và dự kiến tình hình diễn biến của tội phạm trong thời gian tới. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên mà trong đó các tội phạm về chức vụ được phân loại thành một nhóm tội phạm và được quy định thành một chương riêng - Chương IX và khái niệm "tội phạm chức vụ" cũng đã được chính thức ghi nhận, đồng thời đây cũng là lần đầu tiên tội lợi dụng chức vụ quyền hạn được quy định là một tội danh, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công cuộc đấu tranh chống loại tội phạm này. Theo quy định của Điều 219 của BLHS 1985 thì "các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội do người có chức vụ thực hiện trong khi thi hành nhiệm vụ" [29], đồng thời luật cũng xác định "người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do dân cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ" [29, Điều 219]. Trong BLHS 1985, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ được quy định tại Điều 221 thuộc phần các tội phạm về chức vụ (bộ luật này chưa có sự phân biệt tội phạm nào là tội phạm về tham nhũng, tội phạm nào là tội phạm về chức vụ khác).
Điều 221 quy định tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ như sau: Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 156, 238 và 239, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm [29]. Theo đó, hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn và hành vi lạm quyền trong khi thi hành công ụv đều được quy định chung trong một điều luật - Điều 221, tuy nhiên do chưa có nhiều thực tiễn xét xử đối với tội phạm này, nên lúc đầu Điều 221 chỉ quy định một khung hình phạt, không quy định các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt.