CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về thi hành án dân sự 1. Khái niệm pháp luật về thi hành án dân sự Trước hết, để làm rõ khái niệm pháp luật thi hành án dân sự, cần tìm hiểu thi hành án là gì? Thi hành án được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được tiến hành theo thủ tục trình tự pháp luật quy định, nhằm thực hiện các bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án. Thi hành án dân sự là giai đoạn kết thúc của tố tụng dân sự mà trong đó cơ quan thi hành án đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành ra thi hành nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Bản chất của thi hành án dân sự là thi hành các quyết định của Tòa án tuyên trong bản án, quyết định mà không giải quyết lại nội dung vụ án và là giai đoạn bảo vệ quyền lợi cho các đương sự về mặt thực tế. Thi hành án dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng đó là bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thực tế trong cuộc sống, bảo đảm quyền lợi của đương sự bên cạnh đó thông qua việc thi hành án, Cơ quan thi hành án phát hiện sai sót của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật từ đó kiến nghị Tòa án có thẩm quyền kịp thời chỉ đạo công tác xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật và kiến nghị trong việc lập pháp. Các bản án, quyết định được thi hành án không chỉ là các bản án, quyết định được ban hành bởi tòa án, của hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và của trọng tài thương mại trong nước mà còn là những phán quyết được ban hành bởi Tòa án nước ngoài và quyết định của Trọng tài nước ngoài nhưng được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, trên cơ sở đó có thể đưa ra khái niệm như sau: Thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành những bản án, quyết định về phần dân sự của các cơ quan có thẩm quyền được thực hiện bởi cơ quan thi hành án dân sự theo trình tự thủ tục chặt chẽ theo qui định của pháp luật về thi hành án dân sự, nhằm đảm bảo quyền và lơi ích hợp pháp theo các quyết định trong các bản án, quyết định đã tuyên.
12 Theo quy định tại Điều 1 và 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008( sửa đổi, bổ sung năm 2014), THADS là hoạt động của nhiều tổ chức và cá nhân, bao gồm cả cơ quan THADS trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và Trọng tài thương mại. Các bản án, quyết định được THADS bao gồm: bản án, quyết định về dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại hoặc những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành án ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Hoạt động THADS trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh được thực hiện theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục theo quy định của Luật THADS, các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản quy phạm phát luật có liên quan. Như vậy, Thi hành án dân sự là hoạt động của nhiều tổ chức và cá nhân được thực hiện theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật THADS và pháp luật có liên quan trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và Trọng tài thương mại.
Các quan hệ xã hội cụ thể phát sinh trong quá trình thi hành và chấp hành hình phạt như: Việc đưa bản án ra thi hành, chỉ định cơ quan tổ chức thi hành, tổ chức lực lượng, cơ sở vật chất đảm bảo cho việc thi hành án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008( sửa đổi, bổ sung năm 2014) ngoài những quy định trên còn qui định về quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án; nghĩa vụ của cơ quan nhà nước hữu quan. do pháp luật hành chính - tư pháp, hay nói cách khác, do pháp luật thi hành án dân sự điều chỉnh. Pháp luật thi hành án dân sự là một bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật Việt Nam. Pháp luật THADS được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành có chứa đựng các quy phạm pháp luật từ Hiến pháp, BLHS, BLDS, BLTTHS, BLTTDS đến các 13 văn bản chuyên ngành về THADS như Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành…thì đều coi là pháp luật THADS.
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật THADS tuy còn nhiều tồn tại nhất định, nhưng pháp luật THADS đã được chuyển hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, ý chí của nhân dân và đồng thuận của xã hội để tạo nền tảng cho hoạt động của cơ quan THADS. Trên cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm pháp luật THADS như sau: Pháp luật THADS là hệ thống các quy tắc xử sự chung( quy phạm pháp luật) thể chế hóa đường lối của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, do các cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự. Pháp luật thi hành án dân sự được cấu thành bởi hệ thống quy phạm pháp luật được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật cho đến những văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ, các Bộ, ban ngành hay chính quyền địa phương ban hành. Đặc điểm của pháp luật về thi hành án dân sự Pháp luật thi hành án dân sự có những đặc điểm sau: - Thời điểm thực hiện pháp luật thi hành án dân sự, được diễn ra ngay sau khi bản án quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Vì vậy, có thể nói không có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng không có hoạt động thi hành án. Tuy nhiên, thi hành án lại không phải là giai đoạn tố tụng; bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật không phải là cơ sở duy nhất để tiến hành các hoạt động thi hành án; thi hành án đòi hỏi những nguyên tắc, thủ tục và cách thức hoạt động riêng. Ví dụ, để có thể tiến hành các hoạt động thi hành án thì phải có quyết định thi hành án và phải dựa trên những quy định cụ thể về thi hành án. - Pháp luật thi hành án dân sự có tính chấp hành, vì thi hành án chỉ được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật quy định nhằm thực hiện các các bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật.
Tuy nhiên, ở đây tính chất chấp hành trong thi hành án có những nét riêng thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, nó chủ yếu do cơ quan tư pháp ( theo nghĩa rộng) hay đối tượng phải thi hành án tiến hành; thứ hai, cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án bao gồm các quy định của pháp luật(được thể 14 hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật) và bản án, quyết định của toà án(văn bản áp dụng pháp luật) đã có hiệu lực pháp luật; thứ ba, mục đích cuối cùng của hoạt động thi hành án là bảo đảm cho các nội dung của các bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật được thực thi chứ không phải là ra các văn bản áp dụng pháp luật hoặc các quyết định có tính điều hành, nét đặc trưng của cơ quan hành chính. - Pháp luật thi hành án dân sự có tính quản lí vì thi hành án luôn đòi hỏi các yếu tố kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, xử lí. nhằm tác động tới các đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của toà án, phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, tôn trọng kỉ luật nhà nước và trở thành người lương thiện (đối với những người bị kết án phạt tù). Ở đây, tính chất quản lí cũng có đặc trưng riêng về chủ thể quản lí, đối tượng và khách thể quản lí; phạm vi và phương pháp quản lý.
- Pháp luật thi hành án dân sự kết hợp giữa phương pháp thuyết phục, giáo dục và cưỡng chế, mệnh lệnh bắt buộc. Trong thi hành án, phương pháp thuyết phục, giáo dục có ý nghĩa quan trọng nhưng phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thi hành có tính chất đặc thù. Điều này xuất phát từ tính chất của thi hành án như đã nêu ở trên. Ngay cả trong trường hợp người phải thi hành án tự nguyện thực thi hành nghĩa vụ của mình thì cũng là vì họ hiểu rằng toà án đã phán xét, sự thực đã được làm sáng tỏ( nghĩa là trước đó họ đã không tự nguyện) và nếu không thi hành thì họ sẽ phải chịu các biện pháp cưỡng chế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Chủ thể tham gia pháp luật thi hành án dân sự bao gồm nhiều cơ quan chức năng, trên cơ sở quy định của pháp luật. Có nhiều cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án, nhất là trong việc tổ chức thi hành các bản án và quyết định của toà án có những nội dung phức tạp. Thực tế đã cho thấy rõ, trong thi hành án vai trò của các cơ quan tư pháp là rất quan trọng, nhất là các cơ quan thi hành án nhưng trong nhiều trường hợp nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp với cơ quan hành pháp và có sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng thì việc thi hành các bản án phức tạp khó đạt được kết quả tốt.