Chương 1: Những vấn đề lí luận về bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân. Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử vụ án hình sự từ thực tiễn. 6 Luan van CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI THÔNG QUA KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Về quyền con ngƣời và bảo vệ quyền con ngƣời 1. Quyền con ngƣời Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao quý nhất của nhân loại, song cũng là vấn đề rộng lớn, phức tạp, được nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu. Quyền con người là những giá trị tự nhiên, vốn có của con người, tuy nhiên nó chỉ thực sự có ý nghiã và trở thành hiện thực khi nó đươc bảo đảm bằng pháp luật.
Quyền con người có những thuộc tính cơ bản sau đây: - Tính phổ biến: Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân. Con người, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận là con người và được hưởng những quyền và sự tự do cơ bản. - Tính đặc thù: Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng quyền con người nhưng mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống. Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang những sắc thái, đặc trưng riêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đó.
Ví dụ, ở các nước Tây Âu, do điều kiện kinh tế phát triển nên con người ở đây được hưởng chế độ an sinh xã hội tốt hơn nơi khác. Ngược lại, ở một số nước châu Á và châu Phi, do kinh tế còn chậm phát triển nên mức độ thụ hưởng an sinh xã hội thấp hơn. - Tính không thể bị tước bỏ: Trong quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định được pháp luật quy định trước, chỉ có những chủ thể đặc biệt mới có thể hạn chế quyền con người.
Ví dụ: phạm nhân bị giam 7 Luan van do thực hiện hành vi phạm tội. - Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Tất cả các quyền con người có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia. Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác. Ví dụ, nếu một người không được làm việc, không có một mức sống đảm bảo cho sự sống còn của cá nhân thì người đó sẽ ít chú ý và không có điều kiện thực hiện các quyền dân chủ như quyền bầu cử hoặc quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội.
Quyền con người được xác định theo các lĩnh vực chủ yếu sau đây: - Nhóm các quyền dân sự, chính trị: Đây là các quyền quan trọng của con người, có liên quan đến sự tồn tại tự nhiên, tất yếu của con người trong xã hội, liên quan đến mối quan hệ tự nhiên giữa con người với một thể chế chính trị của xã hội đó, ví dụ như quyền sống, quyền tự do, quyền bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, bí mật thư tín, điện tín. Các quyền này trực tiếp hoặc phần lớn liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự. - Nhóm các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa : Đây là nhóm quyền theo quan điểm của các nước xã hội chủ nghĩa được coi là quan trọng nhất và nhóm các quyền này luôn gắn liền với một nhà nước cụ thể, được đảm bảo bởi nhà nước. Các quyền này bao gồm: Quyền lao động, quyền học tập, quyền an sinh xã hội, các quyền về văn hoá, sáng tạo và hưởng thụ các thành tựu của khoa học kỹ thuật.
Ngoài các quyền nêu trên, theo quan điểm của cộng đồng quốc tế là quyền con người còn bao gồm các quyền của nhóm và quyền tập thể, như quyền phụ nữ, quyền trẻ em, quyền của người khuyết tật, quyền phát triển , quyền sống trong hoà bình, trong môi trường trong lành. Bảo vệ quyền con ngƣời Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, để bảo đảm quyền con người, nhà nước có ba nghĩa vụ cụ thể đó là: Nghĩa vụ tôn trọng: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước không được tùy 8 Luan van tiện tước bỏ, hạn chế hay can thiệp, kể cả trực tiếp hay gián tiếp, vào việc thụ hưởng các quyền con người. Nghĩa vụ bảo vệ: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của các bên thứ ba. Nghĩa vụ thực hiện: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ công dân trong việc thực hiện các quyền con người.
Để thực hiện các nghĩa vụ về bảo đảm quyền con người, các nhà nước phải sử dụng pháp luật. Là một phạm trù đa diện, xong quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn cả với pháp luật. Điều này trước hết là bởi cho dù quyền con người là bẩm sinh, vốn có song việc thực hiện các quyền vẫn cần có nhà nước và pháp luật. Hầu hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà còn trở thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả các chủ thể trong xã hội.
Với tư cách là chủ thể của pháp luật, con người cùng với quyền, tự do và nghĩa vụ, những thuộc tính xã hội gắn liền với nó luôn là đối tượng phản ánh của các hệ thống pháp luật. Pháp luật xác lập và bảo vệ sự bình đẳng giữa các cá nhân con người trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá nhân với tập thể, cộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền và tự do tự nhiên, vốn có của cá nhân. Theo nghĩa này, pháp luật có vai trò đặc biệt không thể thay thế trong việc bảo vệ các quyền con người. Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng.
Mặc dù quyền con người có tính "bẩm sinh" nhưng nó không thể thành hiện thực nếu không có pháp luật. Trước hết, vai trò quan trọng của pháp luật đối với quyền con người là nó ghi nhận, củng cố, hoàn thiện quyền con người. Pháp luật ghi nhận các quyền của con người được xã hội thừa nhận. Thông qua pháp luật, quyền con người được ghi nhận và bảo vệ.
Để bảo đảm quyền con người, pháp luật đưa ra những điều cấm và những hành vi bắt buộc phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm quyền con người. Quyền 9 Luan van con người được pháp luật xác lập sẽ không thể bị tước bỏ, hạn chế một cách tuỳ tiện vì được bảo vệ bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của xã hội, nhà nước. Pháp luật là công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để bảo đảm thực hiện quyền con người. Với những đặc điểm riêng của mình, pháp luật có tính bắt buộc cứng rắn bằng cách xác lập những điều cấm mà bất cứ ai cũng không được vi phạm.
Đồng thời, pháp luật được bảo đảm thi hành bằng bộ máy nhà nước cùng với sức mạnh (dư luận) xã hội. Vì thế, các quy định của pháp luật về quyền con người còn được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của Nhà nước tránh mọi hành vi xâm hại. Trên cơ sở của pháp luật, mọi hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân đều phải được xử lý nghiêm minh. Bảo vệ quyền con người là một quá trình.
Nó phụ thuộc vào tổng thể nhiều điều kiện khác nhau (chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa,.) trong đó pháp luật có vị trí, vai trò và tầm quan trọng hàng đầu. Để phát huy đầy đủ vai trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con người thì phải thể chế hóa quyền con người thành các quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật và phải có cơ chế bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện trong thực tế, tạo thành đảm bảo pháp lý cho thực hiện quyền con người. Nói cách khác, đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người chính là đảm bảo thực hiện quyền con người bằng pháp luật. Bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự 1.
Khái niệm bảo vệ quyền con ngƣời thông qua kiểm sát xét xử các vụ án hình sự Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “bảo đảm” được hiểu là: “Làm cho chắc chắn được thực hiện, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”. Theo Đại từ điển tiếng Việt, bảo vệ là: Giữ gìn, chống sự xâm phạm để khỏi bị hư hỏng, mất mát. Dùng lý lẽ để bênh vực, giữ vững ý kiến, quan điểm, học thuyết: bảo vệ chân lý, bảo vệ ý kiến. Pháp luật quốc tế chỉ ra rằng, bảo đảm quyền con người được cấu thành 10 Luan van từ ba nhiệm vụ là tôn trọng quyền con người, bảo vệ quyền con người và thực hiện quyền con người.
Theo đó, bảo vệ quyền con người là yếu tố của bảo đảm quyền con người, là phòng ngừa và chống lại mọi hành vi xâm hại quyền con người. Nghĩa vụ bảo vệ quyền con người trước hết đặt lên vai các nhà nước. Hay nói cách khác, nhà nước là chủ thể hàng đầu có nghĩa vụ bảo vệ quyền con người trên tất cả các lĩnh vực. Tố tụng hình sự dễ có nguy cơ xâm hại quyền con người.