mở đầu Phần hai: Nọi dung chính gồm 3 chương. Chương |: Bối cảnh trong nước và quốc tế của công cuộc cải tố ở Liên Xô. Chương II: Quá trình cải tổ ở Liên Xô ( từ 1985 — 1991 ) Họ tên: LéLongBién — — Khóaluậntôtnghiệp Chương lil: Kết quả và nguyên nhân that bại của công cuộc cải tố ở Liên Xô. Phần ba: Kết luận.
Phan bến: Tài liệu tham khảo. Họ tên: Lê Long Biên "Khóa luận tốt nghiệp Phan hai: Nội dung chính. Chương |: Bối cảnh quốc tế và trong nước của công cuộc cải tổ ở Liên Xô. Bối cảnh quốc tế.
Năm 1985, Liên Xô tiến hành cải tổ sâu rộng dat nước. Công cuộc cải tổ này chịu tác động sâu sắc của những vắn đề quốc tế. Bối cảnh quốc tế tác động vào tình hình Liên Xô gồm những van đề sau: I. Sự phát triển mạnh mẽ của phương Tây và Nhật Bản.
Thập niên 60 — 70 của thé kỷ XX, các nước Tây Âu và Nhật Bản có bước phát triển to lớn về kinh tế và chính trị. Với sự phát triển này địa vị siêu cường của Liên Xô bị thách thức một cách nghiệm trọng. Cuối thập niên 70 tình hình ngảy càng rõ hơn, Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập niên 50, tốc độ tăng trưởng của Liên Xô khoảng 10%, từ 1946 đến 1950 tốc độ tăng trưởng hàng năm của tống sản phẩm xã hội là 14,2 %, từ năm 1951 đến 1960 là 10%, từ thập niên 1960 tốc độ tăng trưởng bắt đầu giảm, nhưng theo thống kê chính thức của Liên Xô, phần lớn chỉ tiêu kinh tế vẫn tăng nhanh hơn Mỹ, mặc dù thống kê này về sau được chứng minh là không chính xác. Cũng như thu nhập quốc dân, trong thập kỷ 60, tỷ lệ tăng trưởng của Liên Xô cao hơn Mỹ là 2%, Đến năm 1975, thu nhập quốc dân của Liên Xô đạt 67% của Mỹ, nhưng trên thực thế chỉ bằng một nửa của MY’.
Nhung tỷ lệ tăng trưởng của thu nhập quốc dân của Liên Xô có xu hướng giảm, trong những năm 1966 - 1970, nghĩa là trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8 tăng 7,1%, lần thir 9 là 5,1%; lần thứ 10 là 3,9%, đến năm 1982 khi Breijhnev qua đời, giảm xuống 2,6%, đạt mức thắp nhất thời kỷ sau chiến tranh. Vị trí của Liên Xô với tư cách là cường quốc kinh tế thế giới đã bị Nhật Bản thách thức nghiêm trọng. Theo k Duy Thúy. Du Thúy ( 1995 }: Mùa đông và mùa xuấn ứ Moskva.
Chấm dứt một thời đại NXb Chỉnh trị quốc gia. Trang 10 Trang 10 Họ tên: Lê Long Biên __ Khóa luận tốt nghiệp thống kê của Liên X6 công bố, tử năm 1960 — 1965 thu nhập quốc dan của Nhật ban tang 5,4 %, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tang 6,5 lần, năng suất lao động công nghiệp tang 4.3 lần củng thời chỉ tiêu tăng trưởng tương ứng của Liên Xô là 3,9%; 4,8 lan; 3 lần. Đến năm 1986, tổng giá trị sản phẩm xã hội của Mỹ là 3 900 tỉ USD, Liên Xô là 1 800 tỉ USD, Nhật bản là 1700 ti USD Vị trí của Liên Xô bị thách thức nghiêm trọng. Đầu năm 1988, quan chức Nhật Bản tuyên bố, Nhật Bản đã vượt Liên Xô và trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trên thé giới.
Thực lực kinh tế của các nước lớn phương Tây tăng lên chủ yếu dựa vào khoa học kỹ thuật mới. Đứng trước cuộc cách mạng khoa học — kỹ thuật mới của thế giới Liên Xô sẽ đi về đâu?. Liên Xô vốn có tiềm lực khoa học — kỹ thuật rất lớn. Đã có lúc Liên Xô dẫn đầu về xây dựng trạm phát điện nguyên tử và kỹ thuật vũ trụ.
Can bộ khoa học — kỹ thuật của Liên Xô chiếm % thông số cán bộ khoa học — kỹ thuật thế giới, đông nhất thế giới. Phát minh kỹ thuật hang năm chiếm 1/3 tổng số thế giới, đứng thứ hai chỉ sau Nhật Bản. Nhưng chủ yếu do thé chế quản lý kinh tế, chỉ cỏ 1⁄4 thành quả kỹ thuật mới được ứng dụng trong nền kinh tế quốc dân, và thời gian từ khi nghiên cứu đến ứng dụng một hạng mục kỹ thuật kéo dài từ 10 đến 12 năm”. Có hiện tượng kỳ quai đã xAy ra là phát minh khoa học kỹ thuật của Liên Xô lại không được ứng dụng ở Liên Xô, mà bí mật chuyển ra nước ngoài sau đó vài năm mới quay trở lại Liên Xô.
Trong khoa học kỹ thuật Liên Xô vẫn còn tình trạng mát cân đối, công nghiệp quân sự tương đối phát triển, công nghiệp dân dụng tương đối lạc hậu. Một số ngành công nghiệp truyền thống của Liên Xô vẫn có sản lượng đứng đầu thế giới, như gang thép, dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên, xi măng, nhưng khoa học kỹ thuật mới như vi điện tử, năng lượng mới, kỹ thuật vi sinh vật lại tụt hậu so với phương Tây. Theo thống kê, giữa thập ky 80, trình độ khoa hoc kỹ thuật của Liên Xô lạc hậu hơn so với các nước phương Tây là 15 năm”. Trong thời kỳ này số người lao động chân tay của Liên Xô khoảng 50 triệu người, công nhân lao động chân tay trong các ngành công nghiệp chiếm Ÿ Du Thúy.
“lạ Phụng Hoang ( 2007): Lich sử Liên X6 và Liên Bang Nga sau chiến tranh thé giới thứ hai, Tắt liệu lưu hành nội bộ. “Trang lÌ Họ tên: Lê Long Biên Khóa luận tốt nghiệp khoảng 1/3, ngành công nghiệp xây dựng chiếm khoảng 1⁄4, trong nông nghiệp là 3⁄4". Gorbachev thửa nhận rằng “phát triển theo chiều rộng về cơ bản đã làm hao mon tiềm lực". " căn bản không còn con đường nào khác”, ngoài day nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Những thành tựu cải cách cùa Trung Quốc. Tử năm 1978, Trung Quốc tiến hành cải cách và mở cửa, xây dựng chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc và dành được nhiều thành tựu to lớn. Đường lối, phương châm và chính sách đúng đắc của Trung Quốc đã thu được những thành tựu to lớn. Về kinh tế đã có bước chuyển biến có ý nghĩa lịch sử sâu sắc.
Về chiến lược phát triển kinh tế và xã hội, từ chd chỉ theo đuổi công nghiệp nặng, đặc biệt là việc tăng sản lượng công nghiệp nặng đã bắt đầu chuyển trọng tâm sang nâng cao hiệu quả kinh tế, chú ý phát triển hài hòa giữa nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng, chú ý phát triển toàn diện kinh tế, khoa học kỹ thuật, y tế, văn hóa giáo dục. Về thể chế kinh tế, từ thể chế xơ cứng, quản lý nhiều mặt, bắt đầu chuyển sang thể chế mới, đầy sức sống và năng động, thích ứng với với đòi hỏi phát triển có kế hoạch nền kinh tế hàng hóa trên cơ sở chế độ công hữu. Trong cải cách thé chế kinh tế, trước tiên thực hiện đột phá ở nông thôn thực hiện toàn diện ché độ khoán sản phẩm, gắn sản phẩm với hộ gia đình và thực hiện một số biện pháp cải cách khác, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất ở nông thôn, làm cho kinh tế nông thôn bắt đầu chuyển hướng theo công nghiệp hóa, hàng hóa hóa và hiện đại hóa. Cải cách thành thị đã bám chặt vào khâu trung tâm làm sống động các xí nghiệp, tiến hành cải cách với mức độ khác nhau về kế hoạch, ngân sách, thuế giá cả, tiền tệ, thương nghiệp.
về kinh tế đối ngoại từ khép kin và nữa khép kin bắt đầu chuyển sang nền kinh té mở, tích cực lợi dụng trao đổi kinh tế. Đã phá bỏ sự ràng buộc tư tưởng" tả" va quan niệm kinh tế tự cung tự cap, khắc phục tư tưởng sai lầm đối lập giữa tự lực cánh sinh với mở cửa bên ngoài, đã dành được kết quả nỗi bật trong vận dụng nguồn vến trong và ngoai nước, khai thác thị trường trong va ngoài Họ tên: Lê Long Biên Khóa luận tốt nghiệp _ nước, học tập được bản lĩnh xây dựng tổ chức trong nước va và phát huy kinh tế đối ngoại. Tình hình một số nước Đông Âu. Một số nước Đông Âu, đặc biệt là Nam Tư va Hunggari, đã tiến hành cải cách trong thời gian tương đối lâu, đã thực hiện được một số thành quả, đương nhiên cũng tổn tại một số van dé tram trọng.
Dù đó là thành tựu hay vấn đề cũng ảnh hưởng trực tiếp đến Liên Xô, thành viên chủ yếu của "đại gia đình”. Tháng 7 - 1948, Đại hội đại biểu lần thứ 5 Liên đoàn những người Cộng sản Nam Tư đã chỉ ra rằng không thể rập khuôn theo mô hình của Liên Xô, bởi vì trong chủ nghĩa xã hội cũng tồn tại quy luật giá trị, do đó cân lợi dụng đòn bẩy kinh tế trong quản lý kinh tế và khắc phục những tác hại của chủ nghĩa quan liêu. Từ thập niên 40 đến thập niên 50 ở Nam Tư đã thực hiện một số cải cách quan trọng như lập Hội đồng công nhân, bỏ một số bộ chủ quan liêu liên bang và mở rộng quyền tự chủ cho xi nghiệp, giao tư liệu lao động cho tập thế điều hành. Thập kỷ 60 lại mở rộng phạm ví tự quản, từ công nhân tự quản đến xã hội tự quản.
Ngoài ra Nam tư còn mở rộng hơn nữa quyền tự chủ kinh doanh ngoại thương của xí nghiệp, tiến hành cải cách giá cả, tiến hành thu hút vốn nước ngoài, lập các xí nghiệp hin vốn. Thập kỷ 70, thực lực tự phát của kinh tế thị trường đã gây ra tình trạng trì trệ trong sản xuất và nhiều hiện tượng hỗn loạn trong nền kinh tế. Do đó, Nam Tư đã tiến hành cải cách kinh tế theo nguyên tắc liên kết lao động trên cơ sở tự chủ của công nhân. Sau khi xuất hiện khủng hoảng kinh tế, năm 1983, Nam Tư đề ra * chường trình én định và phát triển kinh tế” năm 1986, Đại hội đại biếu lần thứ 3 Liên đoàn những người Cộng sản Nam Tư nhắn mạnh hơn nữa sự can thiết phải quán triệt chương trình, thực hiện cải cách sâu sắc hơn nữa chế độ kinh tế, chính sách kinh tế và chính sách phát triển nhằm phát triển quan hệ tự quản và dân chủ XHCN, xây dựng thị trường thống nhất, khắc phục lạm phát tiền tệ và giải quyết nạn thắt nghiệp.
Nhưng tình hình kinh té Nam Tư rất gay gắt, cần giải quyết những van đề tăng cường quản lý vĩ mô.