Công Cuộc Cải Tổ Ở Liên Xô Từ Năm 1985 Đến Năm 1991

Khóa luận phân tích công cuộc cải tổ ở Liên Xô từ 1985 đến 1991, khám phá nguyên nhân, diễn biến và tác động đến lịch sử thế giới.

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2010

110
34
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

0.4. Phạm vi nghiên cứu

0.5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.6. Cấu trúc của đề tài

1. CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC CỦA CÔNG CUỘC CẢI TỔ Ở LIÊN XÔ

1.1. Bối cảnh quốc tế

1.1.1. Sự phát triển mạnh mẽ của phương Tây và Nhật Bản

1.1.2. Những thành tựu cải cách của Trung Quốc

1.1.3. Tình hình một số nước Đông Âu

1.2. Bối cảnh trong nước

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH CẢI TỔ Ở LIÊN XÔ (TỪ 1985 ĐẾN NĂM 1991)

2.1. Gorbachev và vấn đề cải tổ ở Liên Xô

2.2. Sơ lược những tư tưởng cải cách ở Liên Xô trước Gorbachev

2.3. Gorbachev lên nắm quyền và vấn đề cải tổ ở Liên Xô

2.4. Quá trình cải tổ ở Liên Xô (từ năm 1985 đến năm 1991)

2.4.1. Giai đoạn 1: Từ Hội nghị Trung ương tháng 4.1984 đến Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô

2.4.2. Giai đoạn 2: Từ Hội nghị toàn thể UBTƯ tháng 6.1987 đến trước Hội nghị toàn quốc lần thứ XIX Đảng Cộng sản Liên Xô

2.4.3. Giai đoạn 3: Từ Hội nghị toàn quốc lần thứ XIX Đảng Cộng sản Liên Xô (26.1988) đến Đại hội XXVIII

2.4.4. Giai đoạn 4: Từ Đại hội XXVIII (7.1990) đến cuộc đảo chính tháng 8.1991

2.4.5. Giai đoạn 5: Từ cuộc đảo chính tháng 8.1991 đến khi Liên Xô tan rã

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA CÔNG CUỘC CẢI TỔ

3.1. Kết quả của công cuộc cải tổ

3.2. Nguyên nhân thất bại của công cuộc cải tổ

3.2.1. Cải cách chưa nắm chắc vấn đề kinh tế

3.2.2. Dân chủ hóa và tính công khai quá mức

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cải Tổ Liên Xô 1985 1991 Nguyên Nhân và Hệ Quả

Cải tổ Liên Xô, hay còn gọi là Perestroika, là một trong những sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử thế giới cuối thế kỷ 20. Dưới sự lãnh đạo của Mikhail Gorbachev, Liên Xô đã trải qua một quá trình cải cách sâu rộng nhằm khôi phục nền kinh tế và chính trị. Tuy nhiên, những cải cách này không chỉ mang lại hy vọng mà còn dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng, bao gồm sự sụp đổ của chế độ XHCN tại Liên Xô.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử Trước Cải Tổ Liên Xô

Trước khi Perestroika diễn ra, Liên Xô đã phải đối mặt với nhiều thách thức kinh tế và chính trị. Sự phát triển mạnh mẽ của phương Tây và Nhật Bản đã làm giảm vị thế của Liên Xô trên trường quốc tế. Nền kinh tế Liên Xô bắt đầu lâm vào khủng hoảng, với tốc độ tăng trưởng giảm sút nghiêm trọng.

1.2. Mikhail Gorbachev và Tư Tưởng Cải Cách

Mikhail Gorbachev, người lãnh đạo Liên Xô từ năm 1985, đã đưa ra hai khái niệm quan trọng: Glasnost (công khai) và Perestroika (cải cách). Ông tin rằng việc mở cửa và cải cách kinh tế là cần thiết để cứu vãn tình hình đất nước. Tuy nhiên, những cải cách này đã không đạt được kết quả như mong đợi.

II. Nguyên Nhân Dẫn Đến Cải Tổ Liên Xô Phân Tích Chi Tiết

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện cải cách kinh tế Liên Xô. Từ áp lực kinh tế đến sự bất mãn của người dân, tất cả đã tạo ra một bối cảnh cần thiết cho sự thay đổi. Việc thiếu hụt hàng hóa và dịch vụ cơ bản đã khiến người dân mất niềm tin vào chính quyền.

2.1. Khủng Hoảng Kinh Tế và Xã Hội

Khủng hoảng kinh tế kéo dài đã dẫn đến tình trạng thiếu thốn hàng hóa và dịch vụ. Người dân bắt đầu phản đối chính quyền, yêu cầu cải cách để cải thiện đời sống. Điều này đã tạo ra áp lực lớn lên Gorbachev để thực hiện các biện pháp cải cách.

2.2. Sự Tăng Trưởng Của Phong Trào Dân Chủ

Phong trào dân chủ tại các nước Đông Âu đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Liên Xô. Sự thành công của các cuộc cách mạng ở các nước láng giềng đã khuyến khích người dân Liên Xô đòi hỏi quyền tự do và dân chủ hơn. Gorbachev đã phải đối mặt với áp lực này và quyết định thực hiện cải cách.

III. Quá Trình Cải Tổ Liên Xô Các Giai Đoạn Chính

Quá trình cải cách ở Liên Xô diễn ra qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm và thách thức riêng. Từ những bước đầu tiên của Perestroika cho đến những biến động lớn dẫn đến sự tan rã của Liên Xô, mỗi giai đoạn đều phản ánh sự phức tạp của tình hình chính trị và kinh tế.

3.1. Giai Đoạn Đầu Từ 1985 Đến 1987

Giai đoạn đầu của Perestroika tập trung vào việc cải cách kinh tế và chính trị. Gorbachev đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm khôi phục niềm tin của người dân, nhưng những cải cách này vẫn chưa đủ để giải quyết các vấn đề cơ bản.

3.2. Giai Đoạn Giữa Từ 1987 Đến 1989

Trong giai đoạn này, Gorbachev đã mở rộng các cải cách, nhưng cũng đối mặt với sự phản đối từ các đảng phái trong Đảng Cộng sản. Sự bất ổn chính trị gia tăng, dẫn đến những cuộc biểu tình lớn và yêu cầu cải cách sâu rộng hơn.

3.3. Giai Đoạn Cuối Từ 1989 Đến 1991

Giai đoạn cuối của Perestroika chứng kiến sự sụp đổ của chế độ XHCN tại Liên Xô. Các nước cộng hòa bắt đầu tuyên bố độc lập, và vào tháng 12 năm 1991, Liên Xô chính thức tan rã.

IV. Hệ Quả Của Cải Tổ Liên Xô Tác Động Đến Thế Giới

Hệ quả của cải cách ở Liên Xô không chỉ ảnh hưởng đến đất nước này mà còn tác động sâu rộng đến toàn cầu. Sự sụp đổ của Liên Xô đã làm thay đổi cục diện chính trị thế giới, dẫn đến sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh.

4.1. Sự Thay Đổi Trong Cục Diện Chính Trị Thế Giới

Sự tan rã của Liên Xô đã dẫn đến sự hình thành của nhiều quốc gia độc lập mới. Điều này đã làm thay đổi cục diện chính trị toàn cầu, với sự gia tăng ảnh hưởng của phương Tây và sự suy giảm của các chế độ xã hội chủ nghĩa.

4.2. Tác Động Đến Các Nước XHCN Khác

Sự sụp đổ của Liên Xô đã tạo ra làn sóng cải cách tại các nước XHCN khác, đặc biệt là ở Đông Âu. Nhiều quốc gia đã từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa và chuyển sang nền kinh tế thị trường.

V. Kết Luận Bài Học Từ Cải Tổ Liên Xô

Cải tổ Liên Xô là một bài học quan trọng về sự cần thiết của cải cách và sự linh hoạt trong chính trị. Những sai lầm trong quá trình cải cách đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, nhưng cũng mở ra cơ hội cho sự phát triển mới.

5.1. Bài Học Về Quản Lý Kinh Tế

Quá trình cải cách cho thấy rằng việc quản lý kinh tế cần phải linh hoạt và thích ứng với thực tế. Các biện pháp cứng nhắc có thể dẫn đến khủng hoảng và bất ổn.

5.2. Tương Lai Của Các Quốc Gia Hậu Xô Viết

Các quốc gia hậu Xô viết đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc xây dựng nền tảng chính trị và kinh tế mới. Bài học từ Liên Xô có thể giúp họ tránh những sai lầm tương tự trong tương lai.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp lịch sử công cuộc cải tổ ở liên xô từ năm 1985 đến năm 1991

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu Phần hai: Nọi dung chính gồm 3 chương. Chương |: Bối cảnh trong nước và quốc tế của công cuộc cải tố ở Liên Xô. Chương II: Quá trình cải tổ ở Liên Xô ( từ 1985 — 1991 ) Họ tên: LéLongBién — — Khóaluậntôtnghiệp Chương lil: Kết quả và nguyên nhân that bại của công cuộc cải tố ở Liên Xô. Phần ba: Kết luận.

Phan bến: Tài liệu tham khảo. Họ tên: Lê Long Biên "Khóa luận tốt nghiệp Phan hai: Nội dung chính. Chương |: Bối cảnh quốc tế và trong nước của công cuộc cải tổ ở Liên Xô. Bối cảnh quốc tế.

Năm 1985, Liên Xô tiến hành cải tổ sâu rộng dat nước. Công cuộc cải tổ này chịu tác động sâu sắc của những vắn đề quốc tế. Bối cảnh quốc tế tác động vào tình hình Liên Xô gồm những van đề sau: I. Sự phát triển mạnh mẽ của phương Tây và Nhật Bản.

Thập niên 60 — 70 của thé kỷ XX, các nước Tây Âu và Nhật Bản có bước phát triển to lớn về kinh tế và chính trị. Với sự phát triển này địa vị siêu cường của Liên Xô bị thách thức một cách nghiệm trọng. Cuối thập niên 70 tình hình ngảy càng rõ hơn, Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập niên 50, tốc độ tăng trưởng của Liên Xô khoảng 10%, từ 1946 đến 1950 tốc độ tăng trưởng hàng năm của tống sản phẩm xã hội là 14,2 %, từ năm 1951 đến 1960 là 10%, từ thập niên 1960 tốc độ tăng trưởng bắt đầu giảm, nhưng theo thống kê chính thức của Liên Xô, phần lớn chỉ tiêu kinh tế vẫn tăng nhanh hơn Mỹ, mặc dù thống kê này về sau được chứng minh là không chính xác. Cũng như thu nhập quốc dân, trong thập kỷ 60, tỷ lệ tăng trưởng của Liên Xô cao hơn Mỹ là 2%, Đến năm 1975, thu nhập quốc dân của Liên Xô đạt 67% của Mỹ, nhưng trên thực thế chỉ bằng một nửa của MY’.

Nhung tỷ lệ tăng trưởng của thu nhập quốc dân của Liên Xô có xu hướng giảm, trong những năm 1966 - 1970, nghĩa là trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8 tăng 7,1%, lần thir 9 là 5,1%; lần thứ 10 là 3,9%, đến năm 1982 khi Breijhnev qua đời, giảm xuống 2,6%, đạt mức thắp nhất thời kỷ sau chiến tranh. Vị trí của Liên Xô với tư cách là cường quốc kinh tế thế giới đã bị Nhật Bản thách thức nghiêm trọng. Theo k Duy Thúy. Du Thúy ( 1995 }: Mùa đông và mùa xuấn ứ Moskva.

Chấm dứt một thời đại NXb Chỉnh trị quốc gia. Trang 10 Trang 10 Họ tên: Lê Long Biên __ Khóa luận tốt nghiệp thống kê của Liên X6 công bố, tử năm 1960 — 1965 thu nhập quốc dan của Nhật ban tang 5,4 %, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tang 6,5 lần, năng suất lao động công nghiệp tang 4.3 lần củng thời chỉ tiêu tăng trưởng tương ứng của Liên Xô là 3,9%; 4,8 lan; 3 lần. Đến năm 1986, tổng giá trị sản phẩm xã hội của Mỹ là 3 900 tỉ USD, Liên Xô là 1 800 tỉ USD, Nhật bản là 1700 ti USD Vị trí của Liên Xô bị thách thức nghiêm trọng. Đầu năm 1988, quan chức Nhật Bản tuyên bố, Nhật Bản đã vượt Liên Xô và trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trên thé giới.

Thực lực kinh tế của các nước lớn phương Tây tăng lên chủ yếu dựa vào khoa học kỹ thuật mới. Đứng trước cuộc cách mạng khoa học — kỹ thuật mới của thế giới Liên Xô sẽ đi về đâu?. Liên Xô vốn có tiềm lực khoa học — kỹ thuật rất lớn. Đã có lúc Liên Xô dẫn đầu về xây dựng trạm phát điện nguyên tử và kỹ thuật vũ trụ.

Can bộ khoa học — kỹ thuật của Liên Xô chiếm % thông số cán bộ khoa học — kỹ thuật thế giới, đông nhất thế giới. Phát minh kỹ thuật hang năm chiếm 1/3 tổng số thế giới, đứng thứ hai chỉ sau Nhật Bản. Nhưng chủ yếu do thé chế quản lý kinh tế, chỉ cỏ 1⁄4 thành quả kỹ thuật mới được ứng dụng trong nền kinh tế quốc dân, và thời gian từ khi nghiên cứu đến ứng dụng một hạng mục kỹ thuật kéo dài từ 10 đến 12 năm”. Có hiện tượng kỳ quai đã xAy ra là phát minh khoa học kỹ thuật của Liên Xô lại không được ứng dụng ở Liên Xô, mà bí mật chuyển ra nước ngoài sau đó vài năm mới quay trở lại Liên Xô.

Trong khoa học kỹ thuật Liên Xô vẫn còn tình trạng mát cân đối, công nghiệp quân sự tương đối phát triển, công nghiệp dân dụng tương đối lạc hậu. Một số ngành công nghiệp truyền thống của Liên Xô vẫn có sản lượng đứng đầu thế giới, như gang thép, dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên, xi măng, nhưng khoa học kỹ thuật mới như vi điện tử, năng lượng mới, kỹ thuật vi sinh vật lại tụt hậu so với phương Tây. Theo thống kê, giữa thập ky 80, trình độ khoa hoc kỹ thuật của Liên Xô lạc hậu hơn so với các nước phương Tây là 15 năm”. Trong thời kỳ này số người lao động chân tay của Liên Xô khoảng 50 triệu người, công nhân lao động chân tay trong các ngành công nghiệp chiếm Ÿ Du Thúy.

“lạ Phụng Hoang ( 2007): Lich sử Liên X6 và Liên Bang Nga sau chiến tranh thé giới thứ hai, Tắt liệu lưu hành nội bộ. “Trang lÌ Họ tên: Lê Long Biên Khóa luận tốt nghiệp khoảng 1/3, ngành công nghiệp xây dựng chiếm khoảng 1⁄4, trong nông nghiệp là 3⁄4". Gorbachev thửa nhận rằng “phát triển theo chiều rộng về cơ bản đã làm hao mon tiềm lực". " căn bản không còn con đường nào khác”, ngoài day nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Những thành tựu cải cách cùa Trung Quốc. Tử năm 1978, Trung Quốc tiến hành cải cách và mở cửa, xây dựng chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc và dành được nhiều thành tựu to lớn. Đường lối, phương châm và chính sách đúng đắc của Trung Quốc đã thu được những thành tựu to lớn. Về kinh tế đã có bước chuyển biến có ý nghĩa lịch sử sâu sắc.

Về chiến lược phát triển kinh tế và xã hội, từ chd chỉ theo đuổi công nghiệp nặng, đặc biệt là việc tăng sản lượng công nghiệp nặng đã bắt đầu chuyển trọng tâm sang nâng cao hiệu quả kinh tế, chú ý phát triển hài hòa giữa nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng, chú ý phát triển toàn diện kinh tế, khoa học kỹ thuật, y tế, văn hóa giáo dục. Về thể chế kinh tế, từ thể chế xơ cứng, quản lý nhiều mặt, bắt đầu chuyển sang thể chế mới, đầy sức sống và năng động, thích ứng với với đòi hỏi phát triển có kế hoạch nền kinh tế hàng hóa trên cơ sở chế độ công hữu. Trong cải cách thé chế kinh tế, trước tiên thực hiện đột phá ở nông thôn thực hiện toàn diện ché độ khoán sản phẩm, gắn sản phẩm với hộ gia đình và thực hiện một số biện pháp cải cách khác, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất ở nông thôn, làm cho kinh tế nông thôn bắt đầu chuyển hướng theo công nghiệp hóa, hàng hóa hóa và hiện đại hóa. Cải cách thành thị đã bám chặt vào khâu trung tâm làm sống động các xí nghiệp, tiến hành cải cách với mức độ khác nhau về kế hoạch, ngân sách, thuế giá cả, tiền tệ, thương nghiệp.

về kinh tế đối ngoại từ khép kin và nữa khép kin bắt đầu chuyển sang nền kinh té mở, tích cực lợi dụng trao đổi kinh tế. Đã phá bỏ sự ràng buộc tư tưởng" tả" va quan niệm kinh tế tự cung tự cap, khắc phục tư tưởng sai lầm đối lập giữa tự lực cánh sinh với mở cửa bên ngoài, đã dành được kết quả nỗi bật trong vận dụng nguồn vến trong và ngoai nước, khai thác thị trường trong va ngoài Họ tên: Lê Long Biên Khóa luận tốt nghiệp _ nước, học tập được bản lĩnh xây dựng tổ chức trong nước va và phát huy kinh tế đối ngoại. Tình hình một số nước Đông Âu. Một số nước Đông Âu, đặc biệt là Nam Tư va Hunggari, đã tiến hành cải cách trong thời gian tương đối lâu, đã thực hiện được một số thành quả, đương nhiên cũng tổn tại một số van dé tram trọng.

Dù đó là thành tựu hay vấn đề cũng ảnh hưởng trực tiếp đến Liên Xô, thành viên chủ yếu của "đại gia đình”. Tháng 7 - 1948, Đại hội đại biểu lần thứ 5 Liên đoàn những người Cộng sản Nam Tư đã chỉ ra rằng không thể rập khuôn theo mô hình của Liên Xô, bởi vì trong chủ nghĩa xã hội cũng tồn tại quy luật giá trị, do đó cân lợi dụng đòn bẩy kinh tế trong quản lý kinh tế và khắc phục những tác hại của chủ nghĩa quan liêu. Từ thập niên 40 đến thập niên 50 ở Nam Tư đã thực hiện một số cải cách quan trọng như lập Hội đồng công nhân, bỏ một số bộ chủ quan liêu liên bang và mở rộng quyền tự chủ cho xi nghiệp, giao tư liệu lao động cho tập thế điều hành. Thập kỷ 60 lại mở rộng phạm ví tự quản, từ công nhân tự quản đến xã hội tự quản.

Ngoài ra Nam tư còn mở rộng hơn nữa quyền tự chủ kinh doanh ngoại thương của xí nghiệp, tiến hành cải cách giá cả, tiến hành thu hút vốn nước ngoài, lập các xí nghiệp hin vốn. Thập kỷ 70, thực lực tự phát của kinh tế thị trường đã gây ra tình trạng trì trệ trong sản xuất và nhiều hiện tượng hỗn loạn trong nền kinh tế. Do đó, Nam Tư đã tiến hành cải cách kinh tế theo nguyên tắc liên kết lao động trên cơ sở tự chủ của công nhân. Sau khi xuất hiện khủng hoảng kinh tế, năm 1983, Nam Tư đề ra * chường trình én định và phát triển kinh tế” năm 1986, Đại hội đại biếu lần thứ 3 Liên đoàn những người Cộng sản Nam Tư nhắn mạnh hơn nữa sự can thiết phải quán triệt chương trình, thực hiện cải cách sâu sắc hơn nữa chế độ kinh tế, chính sách kinh tế và chính sách phát triển nhằm phát triển quan hệ tự quản và dân chủ XHCN, xây dựng thị trường thống nhất, khắc phục lạm phát tiền tệ và giải quyết nạn thắt nghiệp.

Nhưng tình hình kinh té Nam Tư rất gay gắt, cần giải quyết những van đề tăng cường quản lý vĩ mô.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ