đặt vấn đề ngoại giao. Ngày nay, ta đã mạnh lên và sức địch thì ngày càng suy sụp. Ở vùng biên giới ta đã quét địch ra khỏi nhiều nơi.Cách mạng Trung Quốc quật lại bọn phản động, giải phóng Trung Nguyên, vượt Trường Giang Nam tiến như vũ bão và hiện đang làm chủ suốt các vùng tiếp giáp bờ cõi nước ta.Vòng vây của bè cánh địch đã đứt tung. Sự tương trợ giữa các nước bạn với ta không còn đóng khung trong phạm vi những lời thanh viện trên làn 16 sóng điện nữa.
Nhận xét tình hình ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bồ thái độ chính thức của chúng ta với thé giới và đã thực hành ngay chủ trương của chúng ta bằng việc công nhận chính phủ Trung Hoa mới” [15]. Năm 1950 với chiên dich Biên giơi , Viét Minh tu nay đã khai thông được đường biên giơi vơi Trung Quéc. Với chiến thắng nay, thế bao vây phong tỏa cách mạng Việt Nam của thực dân Pháp đã bị phá tan. Từ đây, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có vùng giải phóng rộng lớn tiếp nối với Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa [85, tr.
Từ đây, chúng ta được nhận nhiều sự chi viện giúp đỡ của các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa trong đó quan trọng nhất là từ Trung Quốc. Thực tế là từ năm 1950 cùng với việc chúng ta bắt đầu mở rộng mối quan hệ với Trung Quốc cũng đồng thời với việc Trung Quốc ngày càng ảnh hưởng tới cuộc chiến tranh Đông Dương kể cả về quân sự, cả về việc xây dựng chính thể của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới trong đó có cả xây dựng nền văn hóa trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nền văn hóa Trung Quốc trong thời kỳ mới chính là nền văn hóa dân chủ mới chủ yếu tuân theo các nguyên tắc tư tưởng của Mao Trạch Đông về văn hóa nghệ thuật. Nếu như văn hóa Liên Xô ảnh hưởng tới quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam thời kỳ 1945-1954 ở tính chất phô quát của nền văn hóa vô sản thì về mặt lý thuyết chúng ta chịu ảnh hưởng những quan điểm văn hóa dân chủ mới từ Trung Quốc dần dần tùng bước một trong thực tế.
Đặc biệt là từ sau chiến dịch Biên giới năm 1950, Việt Nam khai thông biên giới với Trung Quốc, và bắt đầu nhận viện trợ của các nước XHCN anh em thông qua sự giúp đỡ trực tiếp của Trung Quốc, thì ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc bắt đầu ảnh hưởng rõ nét hơn. Ảnh hưởng đó được biểu hiện cụ thé ở sự học tập những quan điểm văn hóa dân chủ mới của Mao Trạch Đông. Những nguyên tắc như văn nghệ phục vụ chính trị, văn nghệ phục vụ quần chúng công nông binh, văn nghệ gan liền với cuộc sống, nguyên tắc Đảng trực tiếp lãnh đạo văn nghệ. đều trở thành những nguyên lý mà khi các nhà văn hóa Việt Nam trong quá trình xây dựng nền văn hóa đều phải học tập.
17 Nguyên tắc đầu tiên chi phối mạnh mẽ nhất chính là nguyên tắc Đảng Cộng sản luôn phải là người nam sự lãnh đạo tuyệt đối đối với công tác văn hóa, văn nghệ. Mao Trạch Động trong văn kiện văn hóa ở Hội nghị văn nghệ Diên An năm 1942 đã nêu rõ: “Chúng ta đứng trên lập trường giai cấp vô sản, đại chúng nhân dân. Người đảng viên cộng sản lại còn phải đứng trên lập trường của Đảng, đứng trên lập trường Đảng tính và chính sách của Đảng nữa”. Đối với Việt Nam, tính Đảng trong văn hóa cũng in dau ấn đậm nét.
Từ bản “Đề cương văn hóa ” của Đảng năm 1943 cho tới bản báo cáo “Chu nghĩa Mác và văn hoa Việt Nam” (1948) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai (1951) đều đưa nội dung về sự lãnh đạo của Đảng lên đầu tiên và xem như là một nguyên tắc căn bản. Đảng Cộng sản năm quyền tối cao lãnh đạo cách mạng văn hóa ở Việt Nam. Nguyên tắc văn hóa phục vụ chính trị cũng là một trong những quy chuẩn đặt ra đối với văn nghệ dân chủ mới. Mao Trạch Đông cho rằng “Văn nghệ là thuộc về chính trị nhưng lại có ảnh hưởng trở lại rất lớn lao đối với chính trị”.
Mối quan hệ giữa công tac văn nghệ với toàn bộ công tác của Dang là: “Văn nghệ cách mạng là một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệp cach mang, là định ốc và bánh xe răng cưa của cả bộ máy, nó phải phục tùng nhiệm vụ cách mạng. Đó là nguyên tắc căn bản nhất. Chúng ta thì chủ trương một cach công khai “nghệ thuật vi cách mạng” [53, tr. Sau này trong các văn kiện lý luận của Đảng ta về công tác văn hóa trong kháng chiến chống Pháp, việc yêu cầu văn hóa, văn nghệ phục vụ cách mạng, phục vụ công tác kháng chiến kiến quốc cũng là vấn đề được đặt ra tối cao, và xuyên suốt.
Trong Đề cương văn hóa Việt Nam (1943), Đảng ta chỉ ra rằng: “các phương pháp cải cách văn hóa đề ra bây giờ chỉ là dọn đường cho một cuộc cách mạng triệt để mai sau” [112, tr. Hồ Chí Minh trong “Thư gửi Đại hội văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (11/1946)” từng phát biểu vai trò của văn hóa là: “văn hóa kháng chiến kiến quốc thiết thực và rộng rãi để giúp sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của toàn dân” Trong đoạn mở dau của bản báo cáo “Chit nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam”, Trường Chinh nêu rõ: “Chúng ta họp lại nơi đây, không ngoai mục đích định rõ 18 phương châm hoạt động văn hóa, đoàn kết các nhà văn hóa nước ta thành một mặt trận, động viên các lực lượng văn hóa nước ta để đốc vào cuộc chiến đấu của dân tộc, để đuôi giặc, cứu nước và xây dựng một nền văn hóa mới” [60, tr. Chủ tịch Mao Trạch Đông trong quan điểm lý luận văn hóa dân chủ mới ở Trung Quốc đã có những ý kiến biện chứng giữa phổ cập và nâng cao trong văn hóa. Nâng cao trên cơ sở phố cập, phô cập dưới sự chỉ đạo của nâng cao.
Bat ké phổ cập hay nâng cao đều là để phục vụ đại chúng công nông binh. Sau này, trong thực tiễn của quá trình vận động văn hóa của Việt Nam, van đề giữa phô cập và nâng cao được cụ thê hóa trong điều kiện Việt Nam đó chính là cuộc tranh luận giữ nghệ thuật và tuyên truyền. Phổ cập chính là tuyên truyền, mà nâng cao chính là nghệ thuật. Cuộc tranh luận này là van đề khúc mắc kéo dai khá lâu trong đấu tranh lý luận ở Việt Nam.
Sau này cũng như Trung Quốc, Đảng ta trong “Chủ nghĩa Mác và van hóa Việt Nam” cũng chỉ rõ: “Tuyên truyền tới mức cao sẽ trở thành nghệ thuật, nghệ thuật thiết thực tới một mức nào đó thì nghệ thuật có tính chất rõ rệt tuyên truyền”. Và “nếu nhà văn đó thiết thực và trung thành với thời đại thì tác phẩm của họ, nghệ thuật càng cao, càng có ý nghĩa tuyên truyền mạnh” [60, tr. Được chỉ dao chặt chẽ bởi đường lối văn nghệ kháng chiến, quan điểm nghệ thuật gắn liền với nhiệm vụ tuyên truyền, văn hóa gắn liền với nhiệm vụ chính trị trở thành xu thế phát triển chung của ý thức văn hóa thời đại ấy. Khi đời sống tinh than chung của một dân tộc đều hướng về chiến đấu và chiến thắng, khẩu hiệu “yêu nước và căm thù giặc” trở thành phương châm hoạt động của nghệ sỹ thì quan điểm nghệ thuật gắn liền với tuyên truyền, văn hóa đi cùng với chính trị là phù hợp với quy luật vận động của lịch sử.
Ở đây tính thực tế của văn hóa nghệ thuật được phát huy mạnh mé. Muốn giải quyết van dé văn nghệ phục vụ cách mạng, phục vụ công nông binh, văn hóa phải phản ánh đúng đắn cuộc sống của nhân dân. Vấn đề mau chốt căn bản nhất là những người làm công tác văn nghệ phải gắn bó với quần chúng, cải tạo tư tưởng, đồng thời tìm nguồn sáng tác trong việc gắn bó với quan chúng. Đó là một quan điểm trọng yêu trong tư tưởng văn nghệ của Mao Trạch Đông.
“Muốn cải 19 tạo tư tưởng cũ và xây dựng thế giới quan vô sản có hiệu quả, các văn nghệ sĩ chỉ cần hạ quyết tâm, thông qua việc học tập lý luận chủ nghĩa Mác trường kỳ.lao mình vào cuộc đấu tranh cách mạng, hòa mình với quần chúng và kết hợp qua lại giữa lý luận và thực tế”. “Những người công tác văn nghệ nhất định phải làm tròn nhiệm vụ đó, phải bỏ đầu óc tiểu tư sản đi, phải đi sâu vào công, nông, binh, vào phong trào đấu tranh thực tế, phải học tập chủ nghĩa Mác-Lê-nin và học tập xã hội, dần dần đi han với công, nông, binh. Chi như thế, chúng ta mới có một nền văn nghệ công, nông, binh chân chính [53, tr. Day là điểm xuất phát của chủ trương chỉnh huấn, chỉnh phong nhằm cải tạo tư tưởng, nâng cao lập trường chính trị cho cán bộ và quần chúng, kế cả trong văn hóa, văn nghệ.
Ở Việt Nam thời kỳ nay, ảnh hưởng của quan điểm này rat lớn. Từ 1950, trong lĩnh vực giáo dục đã tiễn hành cuộc vận động “rèn cán chỉnh cơ” rầm rộ. Từ năm 1952, trong văn học nghệ thuật, các văn nghệ sĩ trăn trở trong quá trình “nhận đường” và “lột xác” dé xác lập lập trường chính tri của mình. Cùng với can bộ, anh chi em văn hóa văn nghệ tham gia cuộc vận động chỉnh huấn.
Đây là dịp mà các anh chị em nhìn lại ưu điểm, khuyết điểm của chính mình, kiểm tra lại nhận thức của mình đối với cách mạng dân tộc dân chủ. Từ đó năm 1954, anh chị em văn nghệ sĩ hăng hái hơn trong chiến đấu, và đặc biệt là hăng hái đi vào cuộc vận động giảm tô và cải cách ruộng đất, tìm hiểu sâu hơn đời sống nhân dân. Các đợt chỉnh huấn, chỉnh phong suốt trong thời kỳ từ 1950-1954 là một trong những biện pháp dé nhằm giáo duc tư tưởng, chỉnh đốn lập trường cho không chỉ cán bộ, bộ đội mà còn dành cho cả các văn nghệ sĩ. Nhưng ảnh hưởng của việc coi trọng yếu tố “hồng” (yếu tố chính trị) hơn yếu tố “chuyên” (chuyên môn) trong sáng tác văn nghệ, lay tinh Dang là yếu tố quy chuẩn chi phối quá trình sáng tạo văn học nghệ thuật cũng có những tác động trái chiều.
Một trong những hạn chế của việc yếu tố chính trị chỉ phối sáng tạo nghệ thuật là vô hình chung trong nhiều trường hợp, các văn nghệ sĩ tự đánh rơi đi “cái tôi” riêng của mình trong nghệ thuật. Những cá tính sáng tạo riêng cũng đã bị yếu tô chính trị chỉ phối đi ít nhiều.