PHẦN MỞ ĐẦU 1/ Tính cấp thiết của đề tài: Ngày nay, xu thế hội nhập toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của thời đại. Đây là vấn đề không riêng chỉ ở nước ta mà còn là vấn đề rất được quan tâm đối với các nước đang phát triển, đang trên đường hòa nhập với kinh tế thế giới. Tuy nhiên, để hòa nhập mà không bị hòa tan trước sự du nhập ồ ạt của nhiều nền văn hóa trên thế giới, chúng ta phải giữ gìn 1 nét văn hóa riêng, có bản sắc riêng của mỗi dân tộc. Sau khi mở cửa, nhiều luồng văn hóa trên thê giới ùa vào nước ta, mang theo những hơi thở mới, giúp cho nền văn hóa của ta thêm phong phú đa dạng.
Mở cửa cũng giúp ta giới thiệu với thế giới nét đặc sắc của nền văn hóa dân tộc, là bước đệm để nền văn hóa nước ta dần hội nhập và hội nhập nhanh hơn. Thế nhưng một nguy cơ đặt ra cũng thật bức xúc của những người tâm huyết, đó là nguy cơ đi chệch hướng, nguy cơ làm mất đi nét đặc sắc riêng của văn hóa dân tộc. Do vậy tuyên truyền, giáo dục về ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một trong những chương trình hành động trọng điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Trong những năm gần đây, khi đánh giá sự phát triển của một quốc gia nào đó, người ta không chỉ quan tâm đến chỉ số tăng trưởng kinh tế mà còn rất chú trọng đến các chỉ tiêu văn hóa.
Cụm từ “Chất lượng cuộc sống” ngày nay được dùng nhiều trên các văn bản cũng chính là muốn nhấn mạnh đến cuộc sống con người trong thế kỷ 21 không chỉ đơn thuần là vật chất mà mặt tinh thần, trong đó bao gồm: môi trường sống, môi trường làm việc, môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội…, nói chung con người có thật sự sống hạnh phúc hay không. Ngày nay, qua nghiên cứu, người ta đã 4 z khẳng định rằng: văn hóa cùng những thành tố của nó là nền tảng, là động lực quyết định của sự tăng trưởng về kinh tế. Hay nói một cách khác, văn hóa có khả năng điều tiết sự phát triển của xã hội. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng, đề cao và phát huy vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội.
Văn kiện Đại hội VIII đã nêu rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiên vừa là động lực thúc đầy sự phát triển kinh tế-xã hội”. Trải dài theo suốt quá trình lịch sử tồn tại và phát triển, những nét văn hóa hay, tiến bộ tích tụ lại và được Cha Ông truyền lại từ đời này sang đời khác. Các thế hệ tiếp nối kế thừa và ngày càng phát triển ra cho thích nghi với thời đại mới. Do vậy mỗi quốc gia đều có những nét văn hóa độc đáo riêng, khác với các quốc gia khác dù là láng giềng, người ta gọi là bản sắc.
Đó chính là cốt lõi của của một nền văn hóa. Bản sắc dân tôc thể hiện trong giá trị của dân tộc đó. Hệ giá trị biểu hiện trong tư tưởng triết học, chính trị, văn học, nghệ thuật, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán…Hệ giá trị đó bền vững và có sức mạnh to lớn đối với cộng đồng. Chính nhờ sức sống mãnh liệt và tính thích ứng nhanh với những trào lưu văn hóa mới của thời đại mà bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc là cái gốc cho mỗi dân tộc, làm nền tảng vững chắc cho dân tộc đó tự tin bước tới tương lai.
Trong quá trình “Gạn đục khơi trong” ấy những hủ tục, mê tín dị đoan sẽ dần bị cộng đồng loại bỏ khỏi đời sống văn hóa của mình, đồng thời tiếp thu những cái hay, nét mới trong quá trình giao lưu, giao thoa để trở thành cái cho riêng mình. Tuy vậy, xác định cho đúng cái nào là lạc hậu, cái nào là truyền thống tốt đẹp cần phát huy thật chẳng dễ dàng. Nhưng để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: “Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ…Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý…Cái gì tốt thì phải phát triển thêm”. Như vậy thì việc duy trì và bảo vệ bản sắc văn hóa của dân tộc mình là điều hết sức cần thiết.
Trong thời đại ngày nay, bất cứ quốc gia nào muốn phát triển lâu bền đều phải xác 5 z định, ngoài yếu tố vật chất, phải đi tìm những mục tiêu, động lực từ những yếu tố tinh thần, yếu tố văn hóa. Phát triển văn hóa chính là quá trình tạo nguồn lực con người, tạo nội lực cho sự phát triển, là mục tiêu và cũng là nguồn lực vô cùng quan trọng cho việc thực hiện chính sách kinh tế-xã hội. Truyền thống và hiện đại là 2 mặt cần có và đủ trong đời sống xã hội. Hai yếu tố này luôn hổ trợ và bổ sung cho nhau để cùng phát triển theo hình trôn ốc.
Cả hai hoà quyện cùng nhau, đan xen nhau làm nên diện mạo văn hóa của từng dân tộc trong từng giai đoạn cụ thể. Sự dung nạp những luồng văn hoá mới sao cho phù hợp là quá trình tất yếu, bởi nó sẽ quyết định con đường phát triển, sự hưng suy của mỗi dân tộc. Đồng nai là một Tỉnh công nghiệp, với 21 khu công nghiệp được cấp phép (cao nhất nước), với 825 dự án của 31 quốc gia và vùng lãnh thổ đang được triển khai. Hàng ngàn nhà máy được xây dựng tại đây, sự phát triển kinh tế, công nghiệp nhanh chóng kéo theo sự du nhập nhiều luồng văn hóa khác nhau đã và đang tạo ra sự thay đổi quá nhanh về diện mạo văn hóa truyền thống Đồng nai.
Trong qúa trình hội nhập về kinh tế, không thể phủ nhận sự giao lưu, giao thoa về văn hóa. Tỉnh ủy và UBND Tỉnh Đồng nai đã nhận thức rất sâu sắc sự việc này và có chỉ đạo sâu sát việc giữ gìn hệ giá trị văn hóa truyền thống của Đồng nai. Công cụ tuyên truyền đắc lực cho công tác này là các cơ quan truyền thông đại chúng, trong đó Đài Phát thanh Truyền hình Đồng nai, với ưu điểm của truyền hình, là một kênh quan trọng. Những năm qua, Đài Phát thanh Truyền hình Đồng nai đã đề ra những chương trình cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trên, nhưng hiệu quả đạt được vẫn chưa như mong muốn.
Cũng chưa có tổng kết những gì đã làm và chưa làm được. Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của Tỉnh nhà trong giai đọan mới, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa Đông Nam bộ trên các chương trình truyền hình” để viết luận văn tốt nghiệp này. 2/ Lịch sử nghiên cứu đề tài: 6 z Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Ngay từ những năm 1943, đồng chí Trường Chinh, lúc đó là Tổng Bí thư của Đảng đã viết Đề cương văn hóa với phương châm “ Dân tộc-Khoa học-và Đại chúng”.
Hiến pháp năm 1992 có 5 điều nói về văn hóa, xác định một lần nữa nguyên tắc phát triển nền văn hóa Việt nam “Dân tộc-Hiện đại-Nhân văn”, nhằm phục vụ sự nghiệp Cách mạng, đấu tranh giành độc lập. Đảng ta đã nhận định: Mọc sự phát triển của xã hội phải gắng liền với việc kế thừa và phát huy những truyền thống và bản sắc dân tộc. Phát triển mà tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa. Đi vào kinh tế thị trường, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị truyền thống sẽ làm mất bản sắc dân tôc, đánh mất bản thân mình, trở thành bóng mờ của người khác, của dân tộc khác.
Với chính sách đổi mới, Đảng đã đề ra đường lối đúng đắn: Phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước cùng lúc với sự phát triển một nền Văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Kế tiếp tinh thần Đề cương Văn hóa năm 1943, Hiến pháp năm 1992, Nghị quyết Ban chấp hành TW khoá VII về Văn hóa, đến Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TW Đảng kháo VIII đã đề ra đường lối xây đựng và phát triển văn hóa. Có thể nói Nghị quyết TW 5 là một nghị quyết thể hiện đúng đắn nguyện vọng của toàn dân, do vậy Nghị quyết đã thật sự đi sâu vào lòng người và được mọi người hưỡng ứng. Đã có rất nhiều công văn, chỉ thị chỉ đạo việc thực hiện công tác nầy.
Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc. Có thể kể một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: -Gia Định thành thông chí- của Trịnh Hoài Đức -Địa chí TP Hồ Chí Minh. Nhiều tác giả -Địa chí Đồng nai- Nhà xuất bản văn hoá xã hội. -Biên hoà-Đồng nai 300 năm hình thành và phát triển.
7 z -Phát thảo văn hoá dân gian Nam bộ- của Nguyễn Như Thảo. -Bản sắc văn hoá dân tộc ở Đồng nai- của Huỳnh Văn Tới. -Di tích lịch sử Đồng nai-của Trần Quanh Tọai (Chủ biên) -Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá miền Đông Nam bộ-Nhà xuất bản Đồng nai. -Văn hoá dân gian trong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á.
NXB Khoa học xã hội. Đinh Gia Khánh 1993. -Việt Nam văn hoá sự cương. NXB Bốn phương Sài gòn 1951.
Đào Duy Anh. -Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam ( tập thể tác giả, Trần Quốc Vượng chủ biên) NXB khoa học xã hội 1996. -Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt nam. Ngô Đức Thịnh chủ biên.
NXB Khoa học xã hội 1993. Việt nam phong tục. Phan kế Bính. NXB TP HCM 1990.
-Văn hoá Việt nam và cách tiếp cận mới. NXB Văn hoá-Thông tin 1994. -Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam. Trần Ngọc Thêm.
NXB TP HCM 1996. -Cơ sở văn hoá Việt Nam. Trần quốc Vượng (Chủ biên). NXB Đại học quốc gia Hà nội 1997.
-Văn hoá Việt Nam, xã hội và con người. NXB Khoa học xã hội 2000. Trong lĩnh vực công tác chuyên môn, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, văn nghệ sĩ. đã có bước vận dụng quan điểm của Đảng, tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc trongphạm vi chuyên môn của mình.