Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi và dân tộc thiểu số tại Việt Nam, vấn đề giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và tạo dựng sinh kế bền vững luôn là ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Tại các khu vực vùng cao, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt cùng với quỹ đất sản xuất ngày càng hạn hẹp do gia tăng dân số đã đặt ra nhiều thách thức đối với đời sống cư dân bản địa. Xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc H’mông đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa và xây dựng các phương thức mưu sinh dựa vào canh tác nương rẫy, chăn nuôi và khai thác tự nhiên. Dưới tác động của quá trình chuyển dịch kinh tế, các hoạt động sinh kế truyền thống của người H’mông tại Mậu Duệ đang có những chuyển biến rõ nét, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cải thiện thu nhập, vừa bộc lộ những hạn chế, thiếu bền vững do kỹ thuật lạc hậu và sự suy giảm tài nguyên.

Nhằm làm rõ thực trạng và tìm kiếm các giải pháp phát triển sinh kế thích ứng, tác giả Nông Thị Thân đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Phát triển nông thôn tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên với đề tài: "Nghiên cứu hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc H’mông trên địa bàn xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang".

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Tập trung tìm hiểu, phân tích các nguồn lực sinh kế; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc H’mông tại xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
    • Tìm hiểu và đánh giá thực trạng các hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc H’mông tại địa phương.
    • Xác định những khó khăn, trở ngại trong hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc H’mông tại xã Mậu Duệ.
    • Đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và gia tăng thu nhập cho người dân.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc H’mông.
  • Phạm vi không gian: Xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang (khảo sát chuyên sâu tại 4 thôn: Pác Luy, Nà Bưa, Nà Sài, Thâm Tiềng).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2016 – 2018 và tiến hành điều tra sơ cấp thực địa từ ngày 20/02/2019 đến ngày 20/05/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận về sinh kế và sinh kế bền vững được tiếp cận từ các nghiên cứu kinh điển và tổ chức quốc tế:

  • Khái niệm sinh kế (Livelihood): Tiếp cận theo Scoones (1998) và Khung sinh kế bền vững của Cục Phát triển Quốc tế Anh (DFID). Sinh kế bao gồm ba thành tố chính: các nguồn lực/tài sản sở hữu, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế đạt được.
  • Khái niệm sinh kế bền vững: Trích xuất từ Báo cáo Brundtland (1987) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) và DFID, nhấn mạnh khả năng chống chịu, phục hồi của hệ thống sinh kế trước các cú sốc, áp lực mà không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên.
  • Mô hình 5 nguồn vốn sinh kế (Tài sản sinh kế): Khảo sát toàn diện qua ngũ giác vốn gồm:
    1. Vốn con người (Human capital): Nhân khẩu, cơ cấu lao động, trình độ học vấn, kỹ năng canh tác.
    2. Vốn tự nhiên (Natural capital): Đất thổ cư, ruộng lúa, đất lâm nghiệp, nguồn nước, đồng cỏ.
    3. Vốn xã hội (Social capital): Quan hệ dòng họ, láng giềng, mạng lưới hỗ trợ, tổ chức đoàn thể.
    4. Vốn vật chất (Physical capital): Cơ sở hạ tầng, đường giao thông, nhà ở, máy móc và công cụ sản xuất.
    5. Vốn tài chính (Financial capital): Thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức và phi chính thức.
  • Cơ sở thực tiễn quốc tế và trong nước: Tổng quan kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu nông thôn "ly nông bất ly hương" của Trung Quốc, phong trào xây dựng nông thôn mới theo 3 cấp độ của Hàn Quốc (Saemaul Undong / Sumamidong), cùng các nghiên cứu sinh kế tại Sơn La, Đakrông (Quảng Trị), Phong Điền (Thừa Thiên Huế), Anh Sơn (Nghệ An) và Võ Nhai (Thái Nguyên).

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp nghiên cứu định tính và phương pháp thống kê mô tả định lượng:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu thống kê, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 – 2018 của Ủy ban nhân dân xã Mậu Duệ và các tài liệu chuyên ngành của ngành nông nghiệp huyện Yên Minh.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp:
    • Quan sát trực tiếp: Ghi nhận điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống thủy lợi, điều kiện nhà ở và phương thức canh tác trên địa bàn.
    • Điều tra bảng hỏi: Phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu khảo sát có cấu trúc gồm 2 phần (thông tin nhân khẩu học của chủ hộ và điều kiện sản xuất, tài sản, hoạt động sinh kế).
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có điều kiện, điều tra tổng cộng 60 hộ gia đình người H'mông tại 4 thôn đại diện: Pác Luy, Nà Bưa, Nà Sài và Thâm Tiềng.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Nhập liệu, tổng hợp và phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào thiểu số tại tỉnh Hà Giang; xác lập hệ thống 4 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của khóa luận.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sinh kế, khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, ngũ giác 5 nguồn vốn sinh kế, các yếu tố thể chế, chính sách tác động đến chiến lược và kết quả sinh kế. Phân tích kinh nghiệm giải quyết việc làm nông thôn của Trung Quốc, Hàn Quốc và lược khảo 6 công trình nghiên cứu sinh kế tiêu biểu tại Việt Nam.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định rõ đối tượng khảo sát là hộ đồng bào H’mông tại xã Mậu Duệ; giới hạn không gian tại 4 thôn điều tra; xác định mốc thời gian thực địa từ tháng 2/2019 đến tháng 5/2019; mô tả chi tiết phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp qua 60 phiếu hỏi và quy trình xử lý dữ liệu bằng thống kê mô tả.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung toàn bộ kết quả phân tích thực nghiệm được chia làm 3 nội dung trọng tâm:

  • Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Phân tích vị trí địa lý, địa hình dốc (600 - 800m), khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa (nhiệt độ trung bình 22 - 23°C, lượng mưa 1800 - 2000mm, độ ẩm 82%). Đánh giá hiện trạng sử dụng 4.114,74 ha đất tự nhiên của xã Mậu Duệ năm 2018: đất nông nghiệp chiếm 68,52% (2.819,5 ha), đất phi nông nghiệp chiếm 4,66% (191,5 ha), đất chưa sử dụng còn lớn chiếm 26,82% (1.103,74 ha).
  • Hiện trạng kinh tế - xã hội xã Mậu Duệ (2016 – 2018):
    • Giá trị sản xuất toàn xã tăng từ 17.329,69 triệu đồng (2016) lên 19.143,35 triệu đồng (2018), tốc độ tăng bình quân đạt 5,10%/năm.
    • Cơ cấu chuyển dịch: Nông - lâm - thủy sản giảm từ 53,81% xuống 44,00%; Công nghiệp - xây dựng tăng từ 31,55% lên 36,82% (nhờ khai thác mỏ Antimon); Thương mại - dịch vụ tăng từ 14,64% lên 19,18%.
    • Trồng trọt năm 2018: Lúa đạt 556,28 ha (năng suất 5,9 tấn/ha, sản lượng 3.282,05 tấn); Ngô đạt 436,25 ha (năng suất 3,92 tấn/ha, sản lượng 1.710,1 tấn); Lạc đạt 35,4 ha (năng suất 2 tấn/ha, sản lượng 70,8 tấn).
    • Chăn nuôi: Đàn trâu đạt 1.339 con (2018); đàn bò 1.027 con; dê 568 con; đàn lợn giảm còn 3.339 con và gia cầm giảm còn 23.000 con do dịch bệnh và rét đậm rét hại.
    • Thủy sản: Duy trì ổn định 2,81 ha, sản lượng năm 2018 đạt 5,90 tấn.
    • Xã hội: Tỷ lệ huy động trẻ 2 - 14 tuổi đến trường đạt trên 98%; trạm y tế xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia (88/100 điểm).
  • Phân tích các nguồn lực sinh kế của 60 hộ điều tra:
    • Vốn con người: Chủ hộ nam chiếm 71,67%, nữ chiếm 28,33%. Học vấn chủ hộ: Tiểu học 21,67%, THCS 33,33%, THPT 28,33%, TC-CĐ-ĐH 16,67%. Phân loại kinh tế hộ: Khá 31,67%, Trung bình 31,67%, Nghèo và cận nghèo chiếm 36,67%. Cơ cấu nghề nghiệp: Hộ nông nghiệp chiếm 58,33% (35 hộ), hộ phi nông nghiệp chiếm 23,33% (14 hộ), hộ kiêm chiếm 18,33% (11 hộ). Tổng số nhân khẩu khảo sát là 250 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 33,2%, phi nông nghiệp 35,2% và người không có khả năng lao động chiếm 31,6%.
    • Vốn tự nhiên: Đất đai bình quân/hộ có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm (Hộ nông nghiệp quản lý 622,25 ha đất khảo sát, gồm 225,8 ha ruộng lúa canh tác giống mới như Thiên Ưu 8, Lai BTE1, Bắc Thơm số 7, Khang Dân 18; Hộ kiêm quản lý 191,03 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 52,35%; Hộ phi nông nghiệp quản lý 80,22 ha chủ yếu là đất ở và vườn).
    • Khó khăn về nguồn nước: 66,67% hộ thiếu nước sinh hoạt thường xuyên; 88,33% hộ thiếu nước sản xuất thường xuyên; 35% hộ phản ánh chi phí nước tưới quá cao; 20% hộ có nguồn nước ở xa.
    • Vốn xã hội: Mối quan hệ dòng họ rất gắn kết (88,40% đánh giá rất tốt), quan hệ láng giềng tốt và bình thường (40,60% rất tốt, 53,50% bình thường); sinh hoạt tôn giáo hòa hợp (78% bình thường).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Đúc kết những nét khái quát về sinh kế của đồng bào H'mông tại Mậu Duệ và đề xuất 4 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sinh kế: hoàn thiện kỹ thuật canh tác, tối ưu hóa nguồn lực, hỗ trợ vốn tín dụng và thúc đẩy đa dạng hóa sinh kế phi nông nghiệp.


Kết quả và đóng góp

Tổng hợp các phát hiện định lượng chính

Chỉ tiêu nghiên cứu Đơn vị tính Kết quả ghi nhận tại địa bàn
Quy mô đất đai xã Mậu Duệ (2018) ha 4.114,74 ha (Đất NN: 68,52%; Phi NN: 4,66%; Chưa sử dụng: 26,82%)
Giá trị sản xuất toàn xã (2018) Triệu đồng 19.143,35 triệu đồng (Tăng trưởng bình quân 5,10%/năm)
Cơ cấu kinh tế xã (2018) % Nông - lâm - thủy sản: 44,00%; CN-XD: 36,82%; Dịch vụ: 19,18%
Năng suất cây trồng chính (2018) Tấn/ha Lúa: 5,9 tấn/ha; Ngô: 3,92 tấn/ha; Lạc: 2,0 tấn/ha
Quy mô mẫu điều tra hộ H'mông Hộ 60 hộ (Chủ hộ nam: 71,67%; Chủ hộ nữ: 28,33%)
Phân loại hộ theo sinh kế % Hộ nông nghiệp: 58,33%; Phi nông nghiệp: 23,33%; Hộ kiêm: 18,33%
Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo % 36,67% (Hộ khá: 31,67%; Hộ trung bình: 31,67%)
Khó khăn về nguồn nước sinh hoạt % 66,67% hộ thiếu thường xuyên; 18,33% nguồn nước không vệ sinh
Khó khăn về nguồn nước sản xuất % 88,33% hộ thiếu thường xuyên; 35,00% chi phí nước tưới quá cao

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất

  1. Giải pháp về kỹ thuật: Đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa các giống lúa lai, lúa thuần năng suất cao (Thiên Ưu 8, Lai BTE1, Bắc Thơm số 7, Khang Dân 18) vào thâm canh; cải tạo tập quán chăn nuôi thả rông sang nuôi nhốt có chuồng trại, phòng chống dịch bệnh và rét đậm rét hại.
  2. Giải pháp về nguồn lực: Quy hoạch chi tiết đất nông nghiệp, hạn chế xói mòn rửa trôi đất dốc; đầu tư xây dựng các công trình phai đập, kênh mương thủy lợi kiên cố để khắc phục triệt để tình trạng thiếu nước sản xuất (88,33% hộ gặp khó khăn).
  3. Giải pháp về vốn: Mở rộng các kênh tín dụng chính sách ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội, đơn giản hóa thủ tục vay vốn để các hộ nghèo tiếp cận nguồn lực đầu tư máy móc nhỏ, phân bón và con giống.
  4. Giải pháp đa dạng hóa hoạt động sinh kế: Khuyến khích chuyển dịch một phần lao động sang lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại, phát triển nghề truyền thống và khai thác cơ hội việc làm phi nông nghiệp nhằm giảm sự phụ thuộc tuyệt đối vào nương rẫy.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu thực chứng cập nhật năm 2019 về cơ cấu 5 nguồn vốn sinh kế của đồng bào dân tộc H’mông tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang; làm rõ bức tranh phân hóa thu nhập giữa nhóm hộ thuần nông và nhóm hộ phi nông nghiệp, chỉ ra điểm nghẽn nghiêm trọng nhất về hạ tầng thủy lợi và nước sinh hoạt tại xã vùng cao Mậu Duệ.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực địa giới hạn ở 60 hộ gia đình tại 4 thôn thuộc một xã miền núi (Mậu Duệ); thời gian nghiên cứu thực tế kéo dài trong 3 tháng (tháng 2 đến tháng 5/2019), chưa bao quát hết các biến động sinh kế theo trọn vẹn chu kỳ 4 mùa trong năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên toàn bộ 17 thôn bản của xã Mậu Duệ hoặc so sánh liên xã trong huyện Yên Minh; đi sâu lượng hóa đóng góp thu nhập từ hoạt động khai thác khoáng sản (mỏ Antimon) và thương mại biên giới đến tính bền vững của các hộ dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên, Dân tộc học và Xã hội học nông thôn.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng: Khung bảng hỏi khảo sát hộ gia đình miền núi (Bảng 4.7 – 4.11); phương pháp đánh giá ngũ giác vốn sinh kế trong điều kiện khan hiếm nguồn nước vùng núi đá; hệ thống dữ liệu kinh tế - kỹ thuật về năng suất cây trồng, vật nuôi tại tiểu vùng cao nguyên đá Hà Giang.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu kinh tế của xã Mậu Duệ trong giai đoạn 2016 – 2018 có sự chuyển dịch như thế nào?

Theo báo cáo của UBND xã Mậu Duệ, tổng giá trị sản xuất toàn xã tăng từ 17.329,69 triệu đồng năm 2016 lên 19.143,35 triệu đồng năm 2018 (tăng bình quân 5,10%/năm). Trong cơ cấu, tỷ trọng ngành nông - lâm - thủy sản giảm từ 53,81% xuống 44,00%; ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 31,55% lên 36,82% (nhờ hoạt động khai thác mỏ Antimon); ngành thương mại - dịch vụ tăng trưởng bình quân 20,28%/năm, nâng tỷ trọng từ 14,64% lên 19,18%.

2. Trình độ học vấn của các chủ hộ người H’mông được điều tra tại xã Mậu Duệ đạt mức nào?

Trong số 60 chủ hộ khảo sát, 100% chủ hộ biết chữ và đã qua các bậc giáo dục phổ thông: trình độ THCS chiếm tỷ lệ cao nhất với 33,33% (20 người); trình độ THPT chiếm 28,33% (17 người); trình độ Tiểu học chiếm 21,67% (13 người) và trình độ Trung cấp - Cao đẳng - Đại học đạt 16,67% (10 người).

3. Khó khăn lớn nhất về nguồn vốn tự nhiên đối với sinh kế của các hộ gia đình khảo sát là gì?

Khó khăn nghiêm trọng nhất là tình trạng thiếu nước. Có tới 88,33% số hộ điều tra bị thiếu nước thường xuyên phục vụ sản xuất nông nghiệp và 66,67% số hộ bị thiếu nước sinh hoạt thường xuyên. Ngoài ra, 35% số hộ phản ánh chi phí nước tưới quá cao và 20% hộ gặp trở ngại do nguồn nước ở quá xa nơi ở.

4. Tình hình sản xuất các cây trồng chính của xã Mậu Duệ năm 2018 đạt kết quả ra sao?

Năm 2018, xã Mậu Duệ gieo trồng 556,28 ha lúa với năng suất bình quân 5,9 tấn/ha, đạt sản lượng 3.282,05 tấn; cây ngô có diện tích 436,25 ha, năng suất 3,92 tấn/ha, sản lượng 1.710,1 tấn; cây lạc có diện tích 35,4 ha, năng suất 2,0 tấn/ha, sản lượng đạt 70,8 tấn.

5. Cơ cấu phân loại hộ theo nguồn thu nhập chính của mẫu điều tra được phân chia như thế nào?

Trong 60 hộ dân tộc H’mông được chọn mẫu, nhóm hộ thuần nông nghiệp chiếm đa số với 58,33% (35 hộ); nhóm hộ phi nông nghiệp chiếm 23,33% (14 hộ); nhóm hộ kiêm (kết hợp cả nông nghiệp và ngành nghề dịch vụ) chiếm 18,33% (11 hộ). Nhóm hộ khá và trung bình tập trung nhiều ở các hộ có hoạt động phi nông nghiệp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Thị Thân đã phản ánh toàn diện thực trạng các hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc H’mông tại xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang thông qua khung phân tích 5 nguồn vốn của DFID. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nông nghiệp vẫn giữ vai trò nền tảng nhưng đang đối mặt với trở ngại nghiêm trọng về thiếu nước tưới (88,33% hộ) và tỷ lệ nghèo còn ở mức 36,67%. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp về kiên cố hóa hạ tầng thủy lợi, áp dụng kỹ thuật thâm canh giống mới và thúc đẩy việc làm phi nông nghiệp là cơ sở then chốt để xây dựng sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.