Tổng quan về luận án
Công trình nghiên cứu khoa học "Quản lý di tích lịch sử quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị" của nghiên cứu sinh Dương Thị Vân Anh (chuyên ngành Quản lý văn hóa, mã số: 9319042, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 2022) đại diện cho bước tiến tiên phong trong việc chuẩn hóa lý luận và thực tiễn quản trị di sản ký ức chiến tranh tại Việt Nam. Vùng đất Quảng Trị trong thế kỷ XX là tâm điểm của các biến cố lịch sử chia cắt và thống nhất đất nước, nơi hội tụ mật độ dày đặc các di tích lịch sử mang tầm vóc quốc gia đặc biệt. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản nơi đây đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng: cơ chế phân cấp quản lý còn phân mảnh, sự chồng chéo chức năng giữa các cấp ban ngành, nguy cơ xuống cấp vật chất dưới tác động khắc nghiệt của khí hậu và áp lực từ hoạt động du lịch văn hóa.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) trọng tâm được xác định là: Trong khi các công trình đi trước phần lớn tiếp cận di tích Quảng Trị dưới lăng kính lịch sử quân sự thuần túy hoặc miêu thuật khảo cứu đơn lẻ, chưa có một công trình học thuật nào ứng dụng Lý thuyết Hệ thống (Systems Theory) để giải phẫu cấu trúc quản trị di sản văn hóa một cách toàn diện từ cấp vĩ mô đến vi mô. Để giải quyết khoảng trống này, luận án xây dựng hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và 3 giả thuyết khoa học tương ứng:
- RQ1: Chức năng, nhiệm vụ của các tiểu hệ thống trong cấu trúc quản lý di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị được phân định như thế nào theo khung pháp lý hiện hành và mức độ tối ưu hóa vận hành của chúng?
- RQ2: Thực trạng vận hành của tiểu hệ thống vĩ mô (cơ quan chỉ đạo, quản lý nhà nước) và vi mô (đơn vị trực tiếp quản trị điểm đến) tương tác và tác động ra sao đến hiệu quả tổng thể của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích?
- RQ3: Những điểm nghẽn mang tính cấu trúc nào đang kìm hãm hiệu năng quản lý, và mô hình giải pháp đồng bộ nào có thể nâng cao tính bền vững cho hệ thống quản lý di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại địa phương?
Khung lý thuyết của công trình được định hình vững chắc dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết Hệ thống của Ludwig von Bertalanffy với các lý thuyết quản trị di sản văn hóa hiện đại của Peter Howard, Arthur Pedersen, Brian Garrod và Alan Fyall. Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn từ năm 2013-2014 (thời điểm các di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt) đến hết năm 2020 tại 3 quần thể di tích trọng điểm đại diện: Cụm di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải (Quyết định số 2383/QĐ-TTg), Di tích Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh (Quyết định số 2408/QĐ-TTg), và Di tích Thành cổ Quảng Trị cùng những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 (Quyết định số 2383/QĐ-TTg). Các điểm thuộc tuyến di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh trên địa bàn được xác định nằm ngoài phạm vi khảo sát trực tiếp do thuộc quyền quản trị đặc thù của Binh đoàn 12 - Bộ Quốc phòng.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa các dòng nghiên cứu về di sản và quản trị di sản:
Dòng nghiên cứu quốc tế khởi nguồn từ thế kỷ XIX và phát triển vượt bậc ở nửa sau thế kỷ XX với sự hình thành của các hiệp hội di sản chuyên nghiệp tại châu Âu. Peter Howard (2003) trong công trình kinh điển Heritage: Management, Interpretation and Identity đã xác lập nền tảng khi phân định di sản thành các cấu phần: thiên nhiên, cảnh quan, đài kỷ niệm, di tích, đồ tạo tác, hoạt động và con người; đồng thời đặt ra mệnh đề cốt lõi: "Chúng ta cần bảo tồn cái gì? Tại sao? Và cho ai?". Trái ngược với quan điểm bảo tồn tĩnh tại, G. Larkham (1995) và Zhan Chang Yuan (2003) tiếp cận di sản dưới góc độ công nghiệp văn hóa (Cultural Industry), xem quản lý di sản là điều phối một ngành công nghiệp đặc thù đòi hỏi tối ưu hóa nguồn lực tài nguyên, vốn đầu tư và nhân sự chuyên nghiệp.
Tranh luận học thuật quốc tế tập trung vào xung đột giữa hai trường phái: Trường phái "Bảo tồn tuyệt đối" (Preservationism) ưu tiên tính xác thực nguyên bản (authenticity) và trường phái "Khai thác thích ứng" (Utilization/Commercialization) gắn liền với kinh tế du lịch. Arthur Pedersen (2002) trong tài liệu hướng dẫn của UNESCO và Brian Garrod & Alan Fyall (2000) trong các nghiên cứu về quản trị du lịch di sản tại Vương quốc Anh đã chứng minh rằng nếu thiếu vắng cơ chế kiểm soát sức chứa du lịch (carrying capacity) và phân vùng chức năng tương thích, di sản sẽ bị hủy hoại không thể phục hồi.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Lưu Trần Tiêu (2003) và Đặng Văn Bài (2001) đã phân định quản lý nhà nước đối với di sản qua 3 trụ cột: hành lang pháp lý, kỹ thuật bảo quản vật chất và khai thác phục vụ xã hội. Nguyễn Thế Hùng (2010), Phan Hồng Giang & Bùi Hoài Sơn (2012), Lê Hồng Lý (2008) tiếp tục phân tích quản trị văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và kinh tế thị trường. Tại địa bàn Quảng Trị, các công trình của Nguyễn Bình (2003), Hoàng Chí Hiếu (2012), Trần Thị Thanh Tâm (2010) và các kỷ yếu hội thảo khoa học của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh (2011) chủ yếu tập trung khảo tả lịch sử quân sự, giá trị kiến trúc hầm hào hoặc ý nghĩa biểu tượng của "vĩ tuyến 17" và "81 ngày đêm đỏ lửa".
Bằng việc đối chiếu với nghiên cứu của Nguyễn Bá Linh (2018) về Thành Nhà Hồ và Hà Thúy Mai (2019) về chiến khu ATK, luận án của Dương Thị Vân Anh định vị chính xác vị trí khoa học của mình: Đây là công trình đầu tiên ứng dụng khung phân tích hệ thống nhị cấp (vĩ mô - vi mô) để giải quyết xung đột cấu trúc trong quản lý loại hình di tích lịch sử chiến tranh - cách mạng cấp quốc gia đặc biệt, lấp đầy khoảng trống giữa lý luận quản lý công và thực hành bảo tồn di sản đặc thù tại Việt Nam.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng và phát triển Lý thuyết Hệ thống (Systems Theory) của Ludwig von Bertalanffy khi chuyển giao vào không gian quản trị di sản văn hóa phi lợi nhuận kết hợp dịch vụ công. Luận án chỉ ra rằng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt không vận hành như một thực thể đơn lẻ mà là một hệ thống mở (open system), tương tác liên tục với môi trường kinh tế, xã hội, chính trị và cộng đồng dân cư bản địa.
Cấu trúc mô hình lý thuyết của luận án xác lập hai mệnh đề nền tảng:
- Mệnh đề 1 (Macro-proposition): Hiệu lực của tiểu hệ thống vĩ mô quyết định tính định hướng chiến lược, nguồn lực đầu tư công và hành lang quy chuẩn bảo vệ di sản; bất kỳ sự đứt gãy nào trong việc phân cấp hành chính sẽ dẫn đến tình trạng suy giảm trách nhiệm giải trình giữa các cơ quan quản lý nhà nước.
- Mệnh đề 2 (Micro-proposition): Năng lực tự chủ và tính chuyên nghiệp của tiểu hệ thống vi mô (đơn vị trực tiếp vận hành) quyết định chất lượng diễn giải di sản (interpretation), trải nghiệm của khách tham quan và tính bền vững của công tác bảo quản định kỳ.
Sự chuyển dịch giác độ lý luận (paradigm shift) ở đây nằm ở việc chuyển đổi từ tư duy "quản lý hành chính mệnh lệnh khép kín" sang mô hình "quản trị tương tác đa chủ thể" (multi-stakeholder governance), trong đó cộng đồng địa phương và du khách được nhìn nhận là thành tố hữu cơ cấu thành hệ thống chứ không thuần túy là đối tượng thụ hưởng bị động.
Tương tác & Chỉ đạo điều hành
Gắn kết xã hội & Khai thác bền vững
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp liên ngành 3 lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết Quản lý Hệ thống (Systems Theory): Phân tích cấu trúc phân rã chức năng thành tiểu hệ thống vĩ mô (Bộ VHTT&DL, UBND tỉnh Quảng Trị, Sở VHTT&DL, các Sở ngành liên quan) và tiểu hệ thống vi mô (Trung tâm Quản lý di tích và Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý Di tích các huyện, thị xã, nhân sự tại điểm di tích).
- Lý thuyết Quản lý Di sản và Công nghiệp Văn hóa (Cultural Industry Theory): Đánh giá quy trình chuyển hóa tài nguyên ký ức thành sản phẩm du lịch hoài niệm thông qua bảo quản, tu bổ và truyền thông giá trị.
- Lý thuyết Quản trị Công Mới (New Public Management): Đánh giá hiệu quả phân bổ ngân sách, tinh gọn bộ máy và xã hội hóa nguồn lực bảo tồn.
Giới hạn biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác định rõ: Khung lý thuyết này áp dụng hiệu quả cao nhất cho các di tích lịch sử chiến tranh - cách mạng do nhà nước sở hữu và quản lý tập trung tại các quốc gia đang phát triển, nơi di sản mang trọng trách kép vừa là biểu tượng giáo dục chính trị tư tưởng, vừa là đòn bẩy phát triển kinh tế du lịch địa phương.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo trường phái Hiện thực Phê phán (Critical Realism), kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp định tính chuyên sâu và phân tích dữ liệu thống kê hành chính. Luận án thiết lập quy trình nghiên cứu đa tầng (multi-level design) tương ứng với hai cấp độ: Cấp độ cấu trúc thể chế (institutional level - phân tích chính sách, quy chế phân cấp, quy hoạch) và cấp độ vận hành thực địa (operational level - kiểm toán nhân lực, điều tra hoạt động bảo quản, khảo sát lượng du khách và nguồn vốn đầu tư).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Luận án tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật tam giác hóa (triangulation):
- Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Đối chiếu chéo giữa số liệu báo cáo thường niên của Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Trị, Trung tâm Quản lý di tích và Bảo tàng tỉnh, các Đề án quy hoạch bảo tồn với số liệu thực tế đo đạc tại hiện trường và hồ sơ khoa học xếp hạng di tích.
- Tam giác hóa phương pháp (Methodological Triangulation): Kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp, khảo sát điền dã thực tế, phỏng vấn sâu cá nhân (semi-structured in-depth interviews) với đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia di sản, và phương pháp lấy ý kiến nhóm tập trung (focus group discussion) đối với cộng đồng cư dân sinh sống tại vùng đệm di tích.
- Quy trình tham vấn chuyên gia: Thu thập ý kiến của các nhà khoa học hàng đầu thuộc Cục Di sản văn hóa, Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các nhà quản lý văn hóa thực tiễn tại miền Trung nhằm thẩm định mô hình giải pháp.
Data và phân tích
Nguồn dữ liệu của luận án được xử lý có hệ thống thông qua các công cụ thống kê mô tả:
- Dữ liệu tài chính: Thống kê chi tiết nguồn vốn đầu tư công cho bảo tồn và phát huy di tích quốc gia đặc biệt tỉnh Quảng Trị giai đoạn 1996 - 2017 và giai đoạn 2018 - 2020.
- Dữ liệu nghiệp vụ: Đánh giá danh mục kế hoạch bảo quản, tu sửa, sưu tầm, bổ sung hiện vật giai đoạn 2013 - 2020.
- Dữ liệu du khách: Phân tích chuỗi dữ liệu tăng trưởng lượng khách tham quan tổng thể tỉnh Quảng Trị và dữ liệu chi tiết tại từng điểm di tích trọng yếu: Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, Địa đạo Vịnh Mốc và Thành cổ Quảng Trị từ năm 2013 đến năm 2020.
- Dữ liệu tổ chức nhân sự: Phân tích cơ cấu trình độ đào tạo, chuyên ngành chuyên môn của đội ngũ cán bộ thuộc Trung tâm Quản lý Di tích và Bảo tàng tỉnh Quảng Trị để đánh giá chỉ số đáp ứng năng lực nghiệp vụ.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Qua quá trình khảo sát và phân tích dữ liệu thực chứng, luận án rút ra 4 phát hiện mang tính đột phá:
Thứ nhất, sự mất cân đối cấu trúc trong cơ chế phân cấp quản lý: Hệ thống quản lý di tích tại Quảng Trị tồn tại sự phân mảnh rõ rệt giữa cấp tỉnh (Sở VHTT&DL, Trung tâm Quản lý di tích và Bảo tàng) và cấp huyện/thị xã (Phòng Văn hóa - Thông tin, UBND các xã/phường). Tình trạng "đồng quản lý nhưng thiếu phân quyền rành mạch" dẫn đến hiện tượng chồng chéo trong công tác thanh tra, xử lý vi phạm lấn chiếm đất đai tại Khu vực bảo vệ I và II. Điển hình như tại di tích Địa đạo Vịnh Mốc, tồn tại tình trạng chậm trễ trong việc giải tỏa, di dời 4 hộ dân thôn Vịnh Mốc sinh sống ngay trong ranh giới bảo vệ I của di tích suốt nhiều năm sau khi được xếp hạng quốc gia đặc biệt.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa giá trị lịch sử vô giá và hiệu suất khai thác thực tế: Luận án chỉ ra sự tương phản sâu sắc giữa quy mô lịch sử hào hùng và khả năng tạo nguồn thu tự chủ của di tích. Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh là một kỳ tích quân sự độc nhất vô nhị với "114 địa đạo với tổng chiều dài hơn 40km, hệ thống giao thông hào hơn 2000km" phân bố khắp gần 70 làng của 15 xã, thị trấn; là nơi cư dân bám trụ suốt "2000 ngày đêm sống dưới lòng đất, lúc đông nhất có đến 1.200 người, 63 em bé đã được sinh ra trong địa đạo", đồng thời lập chiến công bắn rơi 293 máy bay và bắn chìm, cháy 69 tàu chiến. Tuy nhiên, sau chiến tranh, phần lớn hệ thống hầm hào bị bồi lấp; ngoại trừ Địa đạo Vịnh Mốc và 2 địa đạo tại Hiền Dũng được bảo quản tương đối tốt, đại bộ phận các làng hầm còn lại chưa được số hóa, cắm mốc bảo vệ và khai thác tương xứng.
Thứ ba, sự thiếu hụt nhân lực chuyên sâu và công nghệ bảo tồn tiên tiến: Số liệu thống kê cơ cấu cán bộ tại Trung tâm Quản lý Di tích và Bảo tàng tỉnh chỉ ra tỷ lệ nhân sự có chuyên môn sâu về bảo quản khoa học vật liệu, phục chế kiến trúc di tích và công nghệ bảo tàng số còn rất thấp. Hầu hết cán bộ quản lý được đào tạo chuyên ngành quản lý xã hội hoặc lịch sử tổng quát, thiếu vắng các chuyên gia bảo tồn vật liệu địa chất hầm ngầm, xử lý chống sụt lún địa tầng đất đỏ bazan tại Vịnh Mốc hay bảo quản kim loại ngoài trời tại Kỳ đài và Cầu Hiền Lương.
Thứ tư, đứt gãy trong liên kết chuỗi giá trị du lịch hoài niệm: Mặc dù lượng khách đến Thành cổ Quảng Trị, Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải và Địa đạo Vịnh Mốc tăng trưởng đều đặn qua các năm (trước thời điểm đại dịch 2020), di tích vẫn chỉ đóng vai trò là "điểm dừng chân thắp hương, tham quan chớp nhoáng" (transit stop) thay vì điểm đến trải nghiệm văn hóa đa dạng. Hoạt động dịch vụ bổ trợ, thuyết minh diễn giải chiều sâu và các chương trình nghệ thuật ký ức chưa phát triển đồng bộ, khiến giá trị lan tỏa kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương còn ở mức khiêm tốn.
Implications đa chiều
- Về mặt lý thuyết: Luận án bổ sung cho ngành Quản lý văn hóa một mô hình phân tích hệ thống nhị cấp thực chứng, chứng minh rằng sự thành công của công tác bảo tồn di sản ký ức phụ thuộc vào mức độ tương thích chức năng giữa tiểu hệ thống quy hoạch vĩ mô và tiểu hệ thống vận hành vi mô.
- Về mặt phương pháp luận: Cung cấp quy trình kiểm toán toàn diện hệ thống quản lý di tích cấp tỉnh, có khả năng nhân rộng áp dụng cho các cụm di tích lịch sử cách mạng liên tỉnh tại Việt Nam (như hệ thống ATK Việt Bắc hay hệ thống di tích Côn Đảo).
- Về mặt thực tiễn và chính sách:
- Hoàn thiện thể chế: Đề xuất UBND tỉnh Quảng Trị tái cơ cấu mô hình quản lý, chuyển đổi Ban Quản lý Di tích theo hướng tinh gọn, thống nhất một đầu mối quản lý chuyên nghiệp cho toàn bộ các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn.
- Quy hoạch không gian thiêng: Xây dựng thị xã Quảng Trị thành "Đô thị hòa bình - Không gian lịch sử tưởng niệm", kết nối không gian thiêng Thành cổ với dòng sông Thạch Hãn và các điểm chốt 81 ngày đêm năm 1972.
- Ứng dụng công nghệ 4.0: Đẩy mạnh số hóa 3D toàn bộ hệ thống làng hầm Vĩnh Linh, triển khai hệ thống thuyết minh tự động đa ngôn ngữ và phục dựng không gian chiến đấu ảo (VR/AR) tại Đôi bờ Hiền Lương để nâng cao trải nghiệm diễn giải di sản.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn thừa nhận một số giới hạn nghiên cứu xuất phát từ điều kiện khách quan:
- Giới hạn về phạm vi khảo sát thực địa: Nghiên cứu chưa thể bao quát cụm di tích Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh tại Quảng Trị do tính chất quản lý đặc thù thuộc Binh đoàn 12 (Bộ Quốc phòng), dẫn đến việc bức tranh quản lý toàn bộ 4 di tích quốc gia đặc biệt của tỉnh chưa được khép kín hoàn toàn trên cùng một hệ quy chiếu dân sự.
- Giới hạn dữ liệu chuỗi thời gian: Khung thời gian dữ liệu dừng lại ở năm 2020, chưa đo lường đầy đủ tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 và giai đoạn phục hồi du lịch di sản sau năm 2022.
- Chưa lượng hóa sâu sức chứa du lịch (Tourism Carrying Capacity): Chưa tiến hành các đo đạc thực nghiệm về độ ẩm, nồng độ vi khí hậu và áp lực tải trọng du khách tác động lên kết cấu vòm đất địa đạo Vịnh Mốc theo các mùa trong năm.
Chương trình nghiên cứu tiếp nối (Future Research Agenda):
- Xây dựng mô hình phối hợp quản lý liên ngành Quân đội - Dân sự đối với các di tích lịch sử chiến tranh do Bộ Quốc phòng đồng quản trị.
- Nghiên cứu ứng dụng vật liệu nano và công nghệ vi khí hậu trong gia cố vách đất chống xói mòn hệ thống làng hầm ngầm ven biển miền Trung.
- Đo lường tác động kinh tế lượng (Econometric analysis) của du lịch ký ức/du lịch hòa bình (Peace tourism) đối với sinh kế bền vững của cư dân vùng giới tuyến Vĩnh Linh - Gio Linh.
Tác động và ảnh hưởng
Công trình của Dương Thị Vân Anh tạo ra những xung lực tác động sâu sắc trên nhiều bình diện:
- Tác động học thuật: Trở thành tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các chương trình đào tạo sau đại học ngành Quản lý văn hóa, Di sản học và Quản trị dịch vụ du lịch tại các học viện, trường đại học trên cả nước; dự kiến đóng góp nhiều trích dẫn học thuật trong các công trình nghiên cứu về quản lý di sản cách mạng.
- Tác động quản trị công: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Sở VHTT&DL và UBND tỉnh Quảng Trị trong việc xây dựng Đề án "Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị hệ thống di tích lịch sử chiến tranh cách mạng tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050".
- Tác động kinh tế - xã hội: Gợi mở lộ trình chuyển hóa các "vùng đất lửa đau thương" thành "biểu tượng hòa bình và hòa hợp dân tộc", nâng tầm Lễ hội Vì Hòa bình và Ngày hội Thống nhất Non sông tại sông Bến Hải thành sự kiện văn hóa mang tầm vóc quốc tế.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận một khung phân tích hệ thống mẫu mực để triển khai các đề tài nghiên cứu về quản lý công, quản lý di sản và kinh tế văn hóa.
- Nhà khoa học và chuyên gia di sản: Nắm bắt bức tranh toàn cảnh về thực trạng bảo tồn di tích chiến tranh tại miền Trung cùng hệ thống cứ liệu lịch sử - hành chính chuẩn xác.
- Cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Sở hữu bộ công cụ giải pháp có tính khả thi cao để tháo gỡ các nút thắt về phân cấp quản lý, khoanh vùng bảo vệ và huy động vốn xã hội hóa.
- Doanh nghiệp lữ hành và phát triển du lịch: Định hình các sản phẩm du lịch ký ức chuyên sâu, kết nối tour di sản Quảng Trị với tuyến "Con đường Di sản miền Trung" và Hành lang Kinh tế Đông - Tây (EWEC).
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Trả lời: Luận án đã mở rộng Lý thuyết Hệ thống của Ludwig von Bertalanffy vào lĩnh vực quản lý di sản lịch sử đặc thù. Thay vì xem xét quản lý di tích như các hoạt động hành chính vụ sự biệt lập, luận án mô hình hóa toàn bộ cơ chế vận hành thành mối tương tác hữu cơ giữa hai tiểu hệ thống vĩ mô và vi mô, giải thích cơ chế mà sự khiếm khuyết trong phân cấp thể chế vĩ mô làm suy giảm trực tiếp hiệu năng bảo quản kỹ thuật và chất lượng dịch vụ di sản tại thực địa.
2. Điểm đổi mới phương pháp luận khi so sánh với các nghiên cứu tương tự?
Trả lời: So với các nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu của Nguyễn Bá Linh năm 2018 tại Thành Nhà Hồ tập trung vào mô hình trung tâm bảo tồn di sản thế giới đơn nhất, hoặc công trình của Hà Thúy Mai năm 2019 tại ATK tập trung vào sự tham gia cộng đồng), luận án này thực hiện phương pháp tiếp cận liên ngành kết hợp giữa kiểm toán cấu trúc hành chính công, phân tích số liệu đầu tư tài chính dài hạn (1996 - 2020) và đánh giá chuỗi tăng trưởng du khách trên một hệ thống đa di tích có tính phân tán địa lý cao.
3. Phát hiện bất ngờ và nghịch lý nhất được chứng minh bằng dữ liệu là gì?
Trả lời: Đó là "nghịch lý về hiệu ứng công nhận danh hiệu". Việc được nâng hạng lên Di tích Quốc gia Đặc biệt giúp lượng khách và nguồn vốn đầu tư công tăng lên, nhưng lại làm trầm trọng thêm sự xung đột thẩm quyền giữa các đơn vị quản lý cấp tỉnh và cấp huyện. Nếu không kịp thời tái cấu trúc bộ máy quản lý vi mô, sự gia tăng nhanh chóng của lượng khách tham quan sẽ đe dọa trực tiếp đến tính toàn vẹn vật chất của các công trình dễ tổn thương như địa đạo ngầm và kỳ đài lịch sử.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication protocol) không?
Trả lời: Hoàn toàn có. Khung phân tích tiểu hệ thống nhị cấp cùng bảng chỉ tiêu kiểm toán nhân lực, phân loại nguồn vốn và đánh giá kế hoạch bảo quản tu bổ được chuẩn hóa theo các bước rõ ràng, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng trực tiếp để khảo sát các hệ thống di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt khác trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình như thế nào?
Trả lời: Lộ trình tập trung vào 3 trọng tâm: (1) Nghiên cứu cơ chế tự chủ tài chính toàn diện cho các khu di tích quốc gia đặc biệt; (2) Ứng dụng bản sao số (Digital Twin) và Metaverse trong tái hiện không gian lịch sử 81 ngày đêm Thành cổ và Đôi bờ Hiền Lương; (3) Định vị thương hiệu quốc tế cho di tích Quảng Trị như một "Công viên Ký ức Hòa bình Thế giới".
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Dương Thị Vân Anh đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật cốt lõi:
- Xác lập cơ sở khoa học và hệ thống hóa khung lý thuyết liên ngành về quản lý di tích lịch sử quốc gia đặc biệt trong bối cảnh phát triển bền vững.
- Đánh giá toàn diện, chân thực thực trạng vận hành của hai tiểu hệ thống quản lý vĩ mô và vi mô tại 3 quần thể di tích tiêu biểu của tỉnh Quảng Trị từ khi xếp hạng đặc biệt đến năm 2020.
- Nhận diện chính xác các điểm nghẽn thể chế, sự chồng chéo chức năng phân cấp và những bất cập trong phát triển nguồn nhân lực bảo tồn chuyên sâu.
- Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính đột phá và khả thi nhằm tái cấu trúc bộ máy quản lý di tích, nâng cao chất lượng diễn giải di sản và bảo tồn thích ứng.
- Định hình hướng đi chiến lược đưa di sản lịch sử chiến tranh Quảng Trị trở thành biểu tượng hòa bình quốc tế, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phương và đất nước.