Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số: 9319042) của nghiên cứu sinh Dương Thị Vân Anh, thực hiện tại Trường Đại học Văn hoá Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Thị Minh Đức và TS. Lê Thị Thu Hà (năm 2022), mang tên đề tài: “Quản lý di tích lịch sử quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị”.
| Thông tin tổng quan |
Nội dung chi tiết |
| Tên đề tài |
Quản lý di tích lịch sử quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị |
| Tác giả |
Dương Thị Vân Anh |
| Người hướng dẫn khoa học |
1. PGS. Trịnh Thị Minh Đức 2. TS. Lê Thị Thu Hà |
| Cơ sở đào tạo |
Trường Đại học Văn hoá Hà Nội |
| Chuyên ngành & Mã số |
Quản lý văn hóa — Mã số: 9319042 |
| Năm hoàn thành |
2022 |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quảng Trị là địa bàn gắn liền với lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước trong thế kỷ XX, nơi lưu giữ nhiều bằng chứng vật chất ghi dấu các sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Trên địa bàn tỉnh có nhiều di tích đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt (QGĐB). Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích này đã đạt được những chuyển biến nhất định, đáp ứng nhu cầu giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, hoạt động quản lý thực tế bộc lộ nhiều hạn chế:
- Việc phân cấp quản lý chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong tình hình mới;
- Sự tham gia và vai trò của các bên liên quan chưa được đánh giá đúng mức;
- Tồn tại tình trạng chồng chéo trong thẩm quyền và chức năng quản lý;
- Công tác chống xuống cấp, khoanh vùng bảo vệ và xử lý lấn chiếm đất đai di tích còn gặp nhiều vướng mắc;
- Hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa diễn ra thường xuyên; công tác thu hút khách du lịch chưa tương xứng với tiềm năng.
Về mặt học thuật, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận các di tích ở Quảng Trị dưới góc độ lịch sử, miêu tả hiện trạng kiến trúc, khảo sát quân sự hoặc đánh giá giá trị sự kiện. Chưa có công trình khoa học chuyên biệt nào đi sâu phân tích một cách hệ thống bộ máy quản lý di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Trị dưới lăng kính khoa học quản lý văn hóa. Do đó, việc nghiên cứu hệ thống quản lý di tích QGĐB, nhận diện các khâu vận hành của các tiểu hệ thống cấu thành để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Vận dụng lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu quản lý di sản văn hóa, khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động của hai tiểu hệ thống quản lý vĩ mô và vi mô đối với các di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị từ khi được xếp hạng đến hết năm 2020; từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, xác định khoảng trống nghiên cứu.
- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận và lý thuyết áp dụng cho đề tài luận án.
- Giới thiệu khái quát các giá trị tiêu biểu của các di tích quốc gia đặc biệt thuộc phạm vi nghiên cứu.
- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động của hệ thống quản lý di tích quốc gia đặc biệt tại tỉnh Quảng Trị, chỉ rõ các thành tựu và hạn chế.
- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý di tích quốc gia đặc biệt nói riêng và di tích lịch sử - văn hóa nói chung tại tỉnh Quảng Trị.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các tiểu hệ thống trong hệ thống quản lý các di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị được xác định như thế nào? Việc phân công theo các chức năng nhiệm vụ đó đã phát huy hết hiệu quả hay chưa?
- Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng của hệ thống quản lý di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị đã cho thấy kết quả quản lý của các tiểu hệ thống đã ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chung của cả hệ thống như thế nào?
- Phân tích những hạn chế cụ thể bộc lộ trong quá trình quản lý và cần có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả quản lý di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị?
- Giả thuyết khoa học: Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị gồm hai tiểu hệ thống quản lý vĩ mô và vi mô. Các tiểu hệ thống này hoạt động theo phân cấp chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật; tuy nhiên trong quá trình vận hành đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý chung của toàn hệ thống. Việc nhận diện và điều chỉnh các khâu này sẽ tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý các di tích trong giai đoạn tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát tình hình quản lý từ các mốc thời gian di tích được xếp hạng quốc gia đặc biệt (năm 2013, 2014) đến hết năm 2020.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực địa tại 3 cụm di tích quốc gia đặc biệt do địa phương quản lý:
- Di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải (huyện Vĩnh Linh và huyện Gio Linh);
- Di tích Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh (huyện Vĩnh Linh);
- Di tích Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 (thị xã Quảng Trị, huyện Hải Lăng và huyện Triệu Phong).
- Phạm vi nội dung và loại trừ: Luận án tập trung đánh giá hệ thống quản lý từ cấp tỉnh trở xuống theo 2 tiểu hệ thống vĩ mô và vi mô đối với 3 di tích trên. Mặc dù Quảng Trị có 4 di tích QGĐB, nhưng di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh (đoạn qua tỉnh Quảng Trị) thuộc quyền quản lý chuyên ngành của Binh đoàn 12 (Bộ Quốc phòng), nằm ngoài hệ thống quản lý hành chính nhà nước của địa phương được khảo sát, do đó không thuộc phạm vi phân tích chuyên sâu của luận án.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã tổng hợp và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành 4 nhóm tài liệu chính:
1. Nhóm nghiên cứu về quản lý di sản văn hóa và di tích lịch sử - văn hóa
- Nghiên cứu quốc tế: Peter Howard trong Di sản: Quản lý diễn giải và bản sắc đã phân tích lịch sử quản lý di sản từ thế kỷ XIX, phân loại các lĩnh vực di sản và đặt ra yêu cầu cân bằng giữa bảo tồn và phát huy giá trị. G. Larkham và Zhan Chang Yuan (Quản lý công nghiệp văn hóa) tiếp cận di sản dưới góc độ công nghiệp văn hóa đặc thù gắn với tài nguyên và nhân lực. Arthur Pedersen (Tài liệu hướng dẫn thực tiễn cho các nhà quản lý khu di sản trên thế giới) và Brian Garrod, Alan Fyall (Quản lý di sản và du lịch) nhấn mạnh giải pháp khoanh vùng, giảm áp lực du lịch và duy trì sự bền vững của di sản.
- Nghiên cứu trong nước: Lưu Trần Tiêu (Mấy vấn đề hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa) xác định 3 mặt bảo tồn (pháp lý - khoa học, vật chất kỹ thuật, sử dụng xã hội) và 3 trọng tâm quản lý (xếp hạng, quản lý cổ vật, phân cấp). Đặng Văn Bài (Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa) nêu các nội dung về văn bản pháp quy, phân cấp, bộ máy và đầu tư ngân sách. Đề tài cấp bộ do Nguyễn Thế Hùng chủ nhiệm (Bảo vệ DSVH trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế) đề xuất 6 nhóm giải pháp quản lý. Các tác giả Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế) phân tích quản lý nhà nước và phát triển sự nghiệp; Lê Hồng Lý (Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch) làm rõ mối quan hệ giữa di sản và du lịch.
- Nghiên cứu cấp địa phương và chuyên đề: Phạm Thị Thu Hương nghiên cứu bảo tồn DSVH vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ công nghiệp hóa - đô thị hóa; Trần Đức Nguyên nghiên cứu quản lý di tích tại Bắc Ninh; Nguyễn Chí Bền nghiên cứu bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội (chương trình KX.09); Nguyễn Thị Thu Hà nghiên cứu quản lý di sản và du lịch tại Hội An; Nguyễn Bá Linh (2018) nghiên cứu quản lý khu di sản Thành Nhà Hồ; Hà Thúy Mai nghiên cứu quản lý di tích lịch sử cách mạng ATK (Tân Trào, Định Hóa, Chợ Đồn).
2. Nhóm nghiên cứu về các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị
- Về di tích Thành cổ Quảng Trị: Nguồn sử liệu thời Nguyễn (Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ, Đồng Khánh dư địa chí); luận án tiến sĩ của Nguyễn Bình (2003) về lịch sử Thành Quảng Trị 1809–1971; bài viết của Lê Đức Thọ (2009); các ấn phẩm quân sự và lịch sử của Văn Nhĩ (1982), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1985, 2006), Tỉnh ủy Quảng Trị - Bộ Quốc phòng (2012), Nguyễn Huy Hiệu (2008), Nguyễn Lộc (1990), Hữu Tiến (1991); các tài liệu tổng kiểm kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Trị (2004) và hồ sơ di tích QGĐB năm 2013.
- Về di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải: Các công trình nghiên cứu về Hiệp định Genève và vĩ tuyến 17 của Tường Hữu (2004), Lưu Văn Lợi (2012), Vũ Dương Ninh (2004), Hoàng Chí Hiếu (2003, 2010, và Luận án Tiến sĩ Lịch sử năm 2012); các tài liệu lịch sử của Bộ Quốc phòng (1996), Đào Trường San (2010), Vũ Kỳ Lân và Nguyễn Sinh (1978); luận văn thạc sĩ của Ôn Minh Hiếu Vy (2015) tiếp cận cụm di tích dưới góc nhìn văn hóa; hồ sơ xếp hạng di tích năm 1986 và hồ sơ khoa học QGĐB năm 2013.
- Về di tích Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh: Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thanh Tâm (2010); đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh của Ban Quản lý Di tích - Danh thắng Quảng Trị (1999–2000) thống kê 114 địa đạo; kỷ yếu hội thảo khoa học của Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Trị (2004) và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị (2011); hồ sơ di tích các năm 1975, 2014.
3. Nhóm nghiên cứu về quản lý và hồ sơ di tích tại Quảng Trị
Gồm tập sách Lịch sử ngành văn hóa thông tin tỉnh Quảng Trị (1945–2000); các tài liệu lý lịch di tích quốc gia đặc biệt do Trung tâm Bảo tồn Di tích và Danh thắng Quảng Trị xây dựng các năm 2013, 2014 phục vụ quy hoạch, khoanh vùng bảo vệ và định hướng khai thác du lịch hoài niệm, không gian tâm linh.
4. Nhóm nghiên cứu vận dụng lý thuyết hệ thống trong quản lý văn hóa
Luận án phó tiến sĩ của Lê Ngọc Dũng (1995) về tổ chức quản lý khai thác di tích theo cơ chế thị trường; luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Hồng (2020) vận dụng lý thuyết hệ thống và quản lý theo quá trình để phân tích hoạt động tu bổ di tích chùa Việt Bắc Bộ.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn
Các công trình đi trước chủ yếu dừng lại ở việc khảo tả hiện trạng, thống kê sự kiện, làm sáng tỏ giá trị lịch sử - văn hóa hoặc đề xuất giải pháp bảo tồn có tính chất tình thế, cục bộ. Chưa có công trình nào sử dụng lý thuyết hệ thống để mổ xẻ toàn diện cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ, mối liên kết vận hành giữa tiểu hệ thống quản lý vĩ mô (quản lý nhà nước) và tiểu hệ thống quản lý vi mô (đơn vị trực tiếp quản lý, khai thác di tích) từ cấp tỉnh trở xuống tại Quảng Trị. Luận án chọn khoảng trống này làm trọng tâm giải quyết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm sử dụng
Luận án căn cứ vào các văn bản pháp lý và các công trình lý luận chuyên ngành để làm rõ các khái niệm cốt lõi:
- Di sản văn hóa: Định nghĩa theo Công ước UNESCO 1972 và Luật Di sản văn hóa Việt Nam (năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009).
- Di tích lịch sử: Quy định theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10382:2014 và Luật Di sản văn hóa.
- Di tích cách mạng – kháng chiến: Kế thừa quan điểm của Nguyễn Quốc Hùng và Phạm Xanh, luận án xác định đây là những bằng chứng vật chất và tinh thần phản ánh quá trình đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1975. Các di tích QGĐB tại Quảng Trị thuộc loại hình này.
- Di tích quốc gia đặc biệt: Căn cứ Khoản 3, Mục 10, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, xác định tính chất tiêu biểu, đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc.
- Khái niệm quản lý và quản lý di tích: Xem xét quản lý như sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu bảo tồn nguyên vẹn và phát huy giá trị di sản trong đời sống đương đại.
Khung phân tích lý thuyết hệ thống
Luận án sử dụng lý thuyết hệ thống (System Theory) làm khung phân tích chủ đạo. Hệ thống quản lý di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị được phân tách thành hai tiểu hệ thống có mối quan hệ tương tác hữu cơ:
- Tiểu hệ thống quản lý vĩ mô (Quản lý nhà nước): Gồm UBND tỉnh Quảng Trị, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Sở VHTTDL), các Sở, Ban, ngành liên quan, UBND các huyện/thị xã (Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị) và Phòng Văn hóa - Thông tin cấp huyện. Chức năng chính là ban hành quy hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách, cấp ngân sách, thanh tra, kiểm tra và chỉ đạo phân cấp quản lý.
- Tiểu hệ thống quản lý vi mô (Quản lý trực tiếp tại điểm): Trọng tâm là Trung tâm Quản lý Di tích và Bảo tàng tỉnh Quảng Trị (TTQLDT&BT) cùng các Ban quản lý/tổ quản lý trực thuộc tại từng điểm di tích. Chức năng chính là tổ chức bảo vệ hiện trạng, triển khai tu bổ, tôn tạo, sưu tầm tư liệu, đón tiếp khách tham quan, thuyết minh và tổ chức hoạt động dịch vụ.
+-------------------------------------------------------------------------+
| HỆ THỐNG QUẢN LÝ DI TÍCH QGĐB Ở QUẢNG TRỊ |
+-------------------------------------------------------------------------+
| TIỂU HỆ THỐNG VĨ MÔ (Quản lý nhà nước) |
| - UBND tỉnh Quảng Trị |
| - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (cơ quan chuyên môn cấp tỉnh) |
| - Các Sở, ban ngành liên quan & UBND các huyện/thị xã |
+-------------------------------------------------------------------------+
+-------------------------------------------------------------------------+
| TIỂU HỆ THỐNG VI MÔ (Quản lý trực tiếp tại điểm) |
| - Trung tâm Quản lý di tích và Bảo tàng tỉnh Quảng Trị |
| - Ban Quản lý Di tích Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải |
| - Ban Quản lý Di tích Địa đạo Vịnh Mốc & Làng hầm Vĩnh Linh |
| - Ban Quản lý Di tích Thành cổ Quảng Trị & các điểm lưu niệm 1972 |
+-------------------------------------------------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp phân tích liên ngành:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và phân loại: Thu thập và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo hành chính, số liệu kinh phí đầu tư, số lượng dự án tu bổ và số lượt khách tham quan qua các giai đoạn (1996–2017, 2018–2020).
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức giữa khoa học quản lý, văn hóa học, sử học và kinh tế học để nhìn nhận di tích trong một hệ phức hợp.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Trực tiếp thu thập thông tin tại 3 cụm di tích và các cơ quan quản lý (Sở VHTTDL, TTQLDT&BT tỉnh).
- Phương pháp điều tra xã hội học (nghiên cứu định tính): Tiến hành quan sát, phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm với các nhóm đối tượng: cán bộ lãnh đạo quản lý, nhân viên phục vụ tại di tích, người dân sinh sống tại vùng phụ cận và khách du lịch.
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Phỏng vấn, xin ý kiến các nhà khoa học, chuyên gia bảo tồn di sản văn hóa về mô hình tổ chức bộ máy và định hướng cơ chế quản lý.
- Phương pháp mô hình hóa và phương pháp so sánh: Đối chiếu mô hình quản lý của Quảng Trị với các mô hình quản lý di tích QGĐB khác tại Việt Nam nhằm nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và xây dựng cấu trúc bộ máy tối ưu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về quản lý di tích quốc gia đặc biệt, khái quát về các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị
Chương 1 xác lập cơ sở lý thuyết, điểm luận các công trình nghiên cứu và phác thảo diện mạo lịch sử, giá trị của 3 cụm di tích QGĐB được khảo sát:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận: Hệ thống hóa các khái niệm, quy định pháp luật và thiết lập khung phân tích lý thuyết hệ thống đối với công tác quản lý di tích.
- Lịch sử vùng đất Quảng Trị: Khái quát quá trình hình thành địa giới hành chính từ thời Lý, Trần, chúa Nguyễn, thời Pháp thuộc, đặc biệt là giai đoạn 1954–1975 khi Quảng Trị trở thành chiến trường chia cắt và đối đầu quân sự trực tiếp.
- Khái quát 3 cụm di tích quốc gia đặc biệt:
- Di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải: Được xếp hạng QGĐB theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013. Cụm di tích gồm cầu Hiền Lương (với lịch sử xây dựng từ năm 1928, cầu gỗ 1931, cầu bê tông 1950, cầu thép 1952, bị đánh sập 1967, cầu phao 1972–1974 và cầu thép mới 1974), Kỳ đài Hiền Lương, Đồn Công an Cửa Tùng, Đồn Công an Hiền Lương, Nhà Liên hợp, hệ thống loa phóng thanh đôi bờ, Đồn Xuân Hòa và các bến đò Tùng Luật, Bến đò A, Bến đò Lũy, Bến đò Dục Đức. Di tích là biểu tượng của nỗi đau chia cắt đất nước trong gần 21 năm và khát vọng thống nhất non sông.
- Di tích Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh: Được xếp hạng QGĐB theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014. Hệ thống gồm 114 địa đạo (tổng chiều dài hơn 40km, trên 2.000km giao thông hào hình thành từ năm 1966 đến 1968), phân bố tại gần 70 làng thuộc 15 xã, thị trấn. Địa đạo được thiết kế dạng vòm chữ Z chống sập, có các phân khu chức năng (hội trường, giếng nước, bếp Hoàng Cầm, phòng sinh con). Di tích lưu dấu sự kiên cường bám trụ của nhân dân, nơi có 63 em bé chào đời trong lòng đất và là điểm trung chuyển huyết mạch chi viện cho đảo Cồn Cỏ và chiến trường miền Nam.
- Di tích Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972: Xếp hạng QGĐB theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013. Quần thể gắn liền với cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ thị xã và Thành cổ năm 1972, biểu tượng của sự hy sinh anh dũng và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đóng góp quyết định vào cục diện ngoại giao ký kết Hiệp định Paris 1973.
Chương 2: Thực trạng quản lý các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị
Chương 2 tập trung phân tích hoạt động của hệ thống quản lý từ cấp tỉnh đến cơ sở trong giai đoạn 2013–2020:
- Hệ thống chủ thể quản lý và nguồn nhân lực:
- Phân tích cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước (UBND tỉnh, Sở VHTTDL, UBND cấp huyện/thị xã) và đơn vị trực tiếp quản lý là Trung tâm Quản lý di tích và Bảo tàng tỉnh.
- Đánh giá cơ cấu cán bộ của TTQLDT&BT tỉnh theo trình độ đào tạo, chuyên ngành và mức độ đáp ứng yêu cầu chuyên môn về bảo tồn, diễn giải di sản và ngoại ngữ.
- Thực trạng các mặt hoạt động quản lý:
- Quy hoạch, khoanh vùng bảo vệ và xử lý đất đai: Rà soát các mốc ranh giới khu vực bảo vệ I và II; ghi nhận tình trạng lấn chiếm đất đai tại một số điểm di tích (như việc tồn tại các hộ dân cần di dời tại khu vực Vịnh Mốc).
- Hoạt động đầu tư, bảo quản, tu bổ và phục hồi: Thống kê nguồn vốn đầu tư giai đoạn 1996–2017 và các dự án bảo tồn giai đoạn 2018–2020. Đánh giá kế hoạch bảo quản định kỳ, tu sửa hiện vật, gia cố hệ thống địa đạo chống sụt lún do thiên tai lũ lụt và tác động thời tiết.
- Công tác đón tiếp, phát huy giá trị và phát triển du lịch: Thống kê số lượng khách du lịch đến Quảng Trị và số lượt khách tham quan tại 3 di tích qua các năm. Phân tích các mô hình phát huy giá trị như lễ hội “Ngày hội thống nhất non sông” (tại Hiền Lương – Bến Hải) hay khai thác không gian tâm linh, tri ân (tại Thành cổ Quảng Trị).
- Đánh giá chung:
- Ưu điểm: Đã kiện toàn một bước bộ máy quản lý tập trung; thu hút được các nguồn vốn của Trung ương và xã hội hóa để tôn tạo các hạng mục chính; lượng khách tham quan có sự tăng trưởng qua từng giai đoạn.
- Hạn chế và bất cập: Sự phối hợp liên ngành và giữa cấp tỉnh với chính quyền cấp huyện/xã còn lỏng lẻo; tình trạng chồng chéo quyền hạn trong công tác quản lý đất đai và trật tự xây dựng; nguồn nhân lực thiếu chuyên gia sâu về bảo quản hiện vật và ngoại ngữ phục vụ khách quốc tế; các dịch vụ bổ trợ phục vụ du khách còn đơn điệu.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới
Chương 3 xây dựng hệ thống các quan điểm, căn cứ pháp lý và đề xuất nhóm giải pháp cụ thể:
- Quan điểm và căn cứ đề xuất giải pháp: Quán triệt đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội bền vững; tuân thủ Luật Di sản văn hóa; bảo đảm tính nguyên gốc và tính toàn vẹn của di tích lịch sử cách mạng.
- Các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý:
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách và mô hình tổ chức bộ máy: Tinh gọn bộ máy, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa Sở VHTTDL, TTQLDT&BT với UBND cấp huyện/thị xã; xây dựng quy chế phối hợp liên ngành rõ ràng nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo.
- Tăng cường công tác quy hoạch, cắm mốc và quản lý đất đai di tích: Hoàn thành cắm mốc ranh giới bảo vệ ngoài thực địa; giải quyết dứt điểm các trường hợp lấn chiếm; xây dựng phương án bồi thường, di dời các hộ dân nằm trong vùng bảo vệ I.
- Đa dạng hóa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính: Tăng cường ngân sách nhà nước cho bảo quản định kỳ; đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư hạ tầng du lịch và tu bổ di tích theo đúng quy chuẩn khoa học.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng định kỳ về nghiệp vụ bảo tồn, quản lý di sản, kỹ năng diễn giải, thuyết minh và trình độ ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ, viên chức trực tiếp tại các điểm di tích.
- Đổi mới hoạt động phát huy giá trị và liên kết du lịch: Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng (du lịch hoài niệm chiến trường xưa, du lịch tâm linh tri ân, du lịch khám phá làng hầm); nâng cao chất lượng dịch vụ bổ trợ; tăng cường tuyên truyền, giáo dục di sản cho thế hệ trẻ và cộng đồng địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tiếp cận và phân tích có hệ thống công tác quản lý các di tích quốc gia đặc biệt tại tỉnh Quảng Trị.
- Vận dụng lý thuyết hệ thống để phân tích cấu trúc quản lý di tích ở cấp độ địa phương, làm rõ sự phân cấp, chức năng, nhiệm vụ và sự tương tác giữa tiểu hệ thống quản lý vĩ mô (quản lý nhà nước) và tiểu hệ thống quản lý vi mô (đơn vị trực tiếp quản lý di tích). Luận án cung cấp một khung phân tích ứng dụng cho nghiên cứu chuyên ngành Quản lý văn hóa đối với loại hình di tích lịch sử cách mạng.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khái quát và đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng công tác quản lý tại 3 cụm di tích QGĐB tiêu biểu ở Quảng Trị trong giai đoạn từ sau khi được xếp hạng (2013, 2014) đến năm 2020.
- Chỉ rõ những điểm nghẽn trong tổ chức bộ máy, cơ chế phối hợp liên ngành, phân cấp quản lý đất đai và thực trạng đội ngũ nhân lực.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ, có tính khả thi, phục vụ trực tiếp cho các nhà hoạch định chính sách tại Sở VHTTDL tỉnh Quảng Trị, UBND tỉnh và các ban quản lý di tích trong việc điều chỉnh quy chế, phân bổ nguồn lực và nâng cao chất lượng hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di tích.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát trên 3 di tích QGĐB do cơ quan hành chính và chuyên môn của địa phương trực tiếp quản lý. Di tích quốc gia đặc biệt Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh (đoạn qua Quảng Trị) do Binh đoàn 12 (Bộ Quốc phòng) quản lý chuyên ngành nên chưa được đưa vào khảo sát sâu trong cùng một hệ quy chiếu quản lý địa phương. Dữ liệu thực trạng được giới hạn khảo sát đến mốc cuối năm 2020.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu mở rộng cơ chế phối hợp quản lý liên ngành đối với các di tích thuộc quyền quản lý của lực lượng vũ trang (Binh đoàn 12, Bộ Quốc phòng) trên cùng địa bàn tỉnh.
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả tác động của các mô hình quản lý mới và sự phục hồi lượng khách du lịch tại các di tích QGĐB ở Quảng Trị trong giai đoạn hậu năm 2020.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và ban quản lý di tích: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tế giúp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Trị, TTQLDT&BT tỉnh cùng chính quyền cấp huyện rà soát quy chế phân cấp, tối ưu hóa quy trình bảo quản, tu sửa và xây dựng phương án cắm mốc bảo vệ di tích.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học: Tài liệu tham khảo về phương pháp vận dụng lý thuyết hệ thống vào khảo sát mô hình quản lý di tích lịch sử cách mạng tại một địa phương cụ thể.
- Các nhà nghiên cứu lịch sử và du lịch: Cung cấp các tư liệu tổng hợp về hồ sơ khoa học, lịch sử xây dựng, thông số kỹ thuật (cầu Hiền Lương, cấu trúc hệ thống làng hầm Vĩnh Linh, diện mạo Thành cổ Quảng Trị) và số liệu thống kê du khách qua các thời kỳ.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao Quảng Trị có 4 di tích quốc gia đặc biệt nhưng luận án chỉ đi sâu khảo sát 3 di tích?
Luận án tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ quản lý nhà nước của chính quyền địa phương (cấp tỉnh trở xuống). Trong 4 di tích QGĐB trên địa bàn tỉnh, di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh thuộc quyền quản lý của Binh đoàn 12 (Bộ Quốc phòng), là đơn vị được giao trọng trách bảo tồn di tích đường Trường Sơn theo hệ thống ngành dọc quân đội. Vì cơ quan này nằm ngoài hệ thống bộ máy quản lý hành chính địa phương mà luận án tập trung khảo cứu, tác giả chỉ giới hạn khảo sát 3 di tích do địa phương trực tiếp quản lý gồm: Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh, Thành cổ Quảng Trị và các địa điểm lưu niệm năm 1972.
2. Hai tiểu hệ thống quản lý vĩ mô và vi mô trong luận án được xác định gồm những đơn vị nào?
- Tiểu hệ thống quản lý vĩ mô: Gồm Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Sở, ban, ngành liên quan, UBND các huyện/thị xã (Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị) và Phòng Văn hóa - Thông tin cấp huyện.
- Tiểu hệ thống quản lý vi mô: Gồm Trung tâm Quản lý di tích và Bảo tàng tỉnh Quảng Trị và các Ban quản lý, tổ quản lý vận hành trực tiếp tại các điểm di tích Đôi bờ Hiền Lương, Địa đạo Vịnh Mốc và Thành cổ Quảng Trị.
3. Di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải và di tích Thành cổ Quảng Trị được xếp hạng quốc gia đặc biệt theo các văn bản nào?
Cả hai di tích này đều được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013. Riêng di tích Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh được xếp hạng theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014.
4. Cấu trúc làng hầm Vĩnh Linh có những đặc điểm kỹ thuật nổi bật nào theo tư liệu khảo sát trong luận án?
Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh gồm 114 địa đạo với tổng chiều dài trên 40km và hơn 2.000km giao thông hào. Cấu trúc các đường hầm có hình vòm ở trên, phẳng ở dưới, chiều cao trung bình 1,6m – 1,7m, rộng 0,8m – 1,1m, có rãnh thoát nước mưa. Đường hầm được đào ngoằn ngoèo theo hình chữ Z nhằm tạo các trụ đất chịu lực chống đổ sập và ngăn cản sức công phá của bom đào, bom khoan cỡ lớn.
Kết luận
Luận án “Quản lý di tích lịch sử quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị” của tác giả Dương Thị Vân Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và áp dụng lý thuyết hệ thống để phân tích mô hình quản lý di tích lịch sử cách mạng tại một địa bàn chiến lược. Thông qua việc đánh giá hoạt động của hai tiểu hệ thống quản lý vĩ mô và vi mô tại 3 cụm di tích quốc gia đặc biệt tiêu biểu giai đoạn 2013–2020, công trình đã làm rõ những thành tựu cùng các bất cập trong phân cấp, nhân lực và quản lý đất đai. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Quảng Trị.