Chương 1: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa. 6 Luan van Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. 7 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về quản lý khu tích lịch sử - văn hoá 1. Các khái niệm cơ bản 1. Di tích lịch sử - văn hóa Thuật ngữ di tích lịch sử văn - hoá ở nhiều nước trên thế giới đều dùng với nghĩa chung nhất, rộng nhất là các dấu tích, dấu vết còn lại trong lịch sử sáng tạo văn hoá của con người. Trong một số văn bản pháp luật về bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá của một số quốc gia thì di tích lịch sử văn hoá được quan niệm cụ thể rộng hẹp khác nhau.
Có thể khái quát được những quan niệm sau đây: - Di tích lịch sử - văn hoá được coi là di sản văn hoá nói chung, bao gồm di sản văn hoá vật thể, di sản văn hoá phi vật thể. Đây là quan niệm rộng nhất về di tích lịch sử văn hoá được thể hiện trong luật số 214 ngày 19 tháng 7 năm 1975 về bảo vệ di sản văn hoá của Nhật Bản. Theo luật này thì di tích lịch sử văn hoá bao gồm: Di sản văn hoá vật chất, di sản văn hoá phi vật chất, di sản văn hoá dân gian, các công trình lưu niệm.13]; - Di tích lịch sử văn hoá được quan niệm hẹp hơn một chút trong Luật về giữ gìn và bảo vệ di tích lịch sử của Philippin, công bố ngày 18-6-1966. Theo đạo luật này thì di tích lịch sử văn hoá sẽ bao gồm cả các di sản văn hoá vật chất và phi vật chất 40 (như các tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc), nhưng không bao gồm các di sản văn hoá dân gian như phong tục tập quán, tôn giáo, tin ngưỡng.21]; 8 Luan van - Di tích lịch sử - văn hoá là toàn bộ các di sản văn hoá tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, bao gồm cả các cổ vật bất động sản (các công trình, các địa điểm, ) và động sản (các đồ vật, hiện vật cụ thể).
Quan niệm này được thể hiện ở Pháp lệnh của nhà vua Ả Rập Xêut quy định về quản lý di tích, công bố ngày 3-8-1972[21; tr 12-13]; Luật số 117 của Cộng Hoà Ai cập ban hành ngày 8-6-1983[12; tr 45-46]; Đạo luật số 16 của Tây Ban Nha công bố ngày 25-6-1985. [19; tr 21]; - Di tích lịch sử - văn hoá chỉ là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất, đó là các công trình, các địa điểm có liên quan đến các sự kiện, danh nhân lịch sử có ý nghĩa tiêu biểu về khoa học, nghệ thuật, lịch sử của dân tộc, nghĩa là chỉ bao gồm các bất động sản nếu gọi theo cách của các đạo luật của Ai Cập, Ả Rập Xêut và tây Ban Nha. Theo quan điểm này có Hiến chưong Vơnizơ của Italia năm 1964 [14; tr 6]., Đạo luật gìn giữ và bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử công bố năm 1976 của Liên Xô, [13; tr 35]. Kế thừa những thành tựu nghiên cứu khoa học của nền khoa học bảo tàng Xô Viết các tác giả giáo trình “Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá” đã đưa ra một khái niệm mang tính khái quát về di tích lịch sử - văn hoá như sau: “Di tích lịch sử - văn hoá là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử do tập thể hoặc cá nhân hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại”.
Định nghĩa này đã phân biệt di tích lịch sử văn hoá với các hình thái di sản vật thể khác như danh thắng, cổ vật và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Theo khoản 3 Điều 4 Luật Di sản văn hóa năm 2013: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”. Theo đó, một công trình được coi là di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: 9 Luan van a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; d) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; đ) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Như vậy, di tích lịch sử - văn hóa là một công trình hay một địa điểm gắn với sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều thời kỳ lịch sử của đất nước.
Một di tích lịch sử văn hóa thường có những bộ phận cấu thành sau đây: - Các di tích bất động sản như: địa điểm, hạng mục công trình xây dựng; - Các di tích động sản (đồ thờ tự, đồ lưu niệm, đồ dùng sinh hoạt.); - Môi trường cảnh quan sinh thái – nhân văn (trong đó có môi trường kiến trúc) bao quanh di tích. Di tích lịch sử văn hóa có thể là một di tích đơn lẻ, cũng có thể là một quần thể hay một tổng thể di tích liên hoàn với nhiều hạng mục công trình và địa điểm khác nhau, hoặc cũng có thể là cả một khu phố cổ, một làng cổ, một trung tâm văn hóa, thương mại. Di tích lịch sử văn hóa có thể là cả một đô thị với quy hoạch, diện mạo kiến trúc đô thị, môi trường thiên nhiên, lối sống, nếp sống của cư dân đô thị. Di tích lịch sử – văn hóa không phải là toàn bộ hệ thống di sản văn hóa dân tộc, nhưng là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống di sản đó.
Loại hình di sản hữu hình này được coi là loại hình di sản quan trọng nhất vì chúng dễ dàng nhận biết nhất so với các di sản vô hình khác. Thực hiện pháp luật Thực hiện pháp luật là giai đoạn quan trọng, không thể thiếu sau giai đoạn xây dựng pháp luật. Pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và giá trị trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi và chỉ khi nó được tôn trọng, thực hiện đầy đủ, nghiêm minh trong cuộc sống. Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc xử sự chung mà nhà nước đã quy định vào tình huống cụ thể đó thông qua hành vi thực tế hợp pháp của mình.
Nói cách khác, những đòi hỏi, cấm đoán hay cho phép của pháp luật đối với các cá nhân, tổ chức đã được biểu hiện thành các hành vi thực tế thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật. Dưới góc độ pháp lý, thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hoặc không hành động) hợp pháp, nghĩa là nó được tiến hành phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi trong phạm vi các quy định của pháp luật. Tóm lại, thực hiện pháp luật là hành vi thực tế hợp pháp, có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm thực hiện hóa các quy định pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống. Thực hiện pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Từ những phân tích ở trên có thể thấy, pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử văn hoá là tổng thể các quy phạm do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý khu di tích lịch sử - văn hoá nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị của nó phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Thực hiện pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa bao gồm các hành vi tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng các quy định của pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa của các cơ quan quản lý đối với các di 11 Luan van tích lịch sử văn hoá theo đúng những định hướng mà Đảng và Nhà nước đề ra. Việc thực hiện pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử văn hóa là sự cụ thể hóa các quy định pháp luật, định hướng, tạo điệu kiện, điều hành việc bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch sử văn hóa, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực. Việc thực hiện pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa của các cơ quan quản lý nhà nước thể hiện thông qua các hành vi như: - Tuân thủ pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa: các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện đúng các quy định pháp luật, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa. - Thi hành (chấp hành) pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa: các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình trong quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa.
- Sử dụng pháp luật về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa: các cơ quan quản lý nhà nước về quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa thực hiện quyền, tự do pháp lý của mình (những hành vi mà pháp luật cho phép chủ thể tiến hành).