Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm * Di sản văn hóa Di sản là khái niệm rộng bao gồm tất cả những thành tố vật thể, phi vật thể, ở trong môi trường tự nhiên; môi trường văn hóa - xã hội, nó bao gồm; cảnh quan thiên nhiên, tổng thể vật chất và tinh thần thuộc về giá trị lịch sử, các di chỉ tự nhiên, hoặc do con người tạo nên. Nó bao gồm cả tính đa dạng sinh học, thảm thực vật, thế giới động vật hoang dã hay đã được thuần dưỡng, lai tạo. Di sản còn bao gồm cả các tập tục truyền thống, những tri thức và kinh nghiệm sống… đã và đang được lưu truyền trong đời sống của cộng đồng, nó vừa mang bản sắc địa phương vừa có tính lan truyền, phản ánh quá khứ đồng thời cũng hiện hữu trong đời sống hiện tại. Theo Từ điển tiếng Việt: “Di sản là cái của đời trước để lại” [9, tr.
Theo từ điển Hán Việt: “di” là sót lại, để lại; “sản” là tài sản. Vậy có thể hiểu: di sản là tài sản để lại, còn sót lại của quá khứ, nó cho thấy quá trình phát triển lâu dài, là tài sản của quá khứ. Di sản văn hóa: theo văn kiện được Đại hội đồng ICOMOS (Hội đồng Quốc tế Các di tích và di chỉ) lần thứ 11 tại Sofia (Bungari): “Di sản văn hóa là để chỉ những di tích, những cụm kiến trúc và những di chỉ có giá trị di sản, tạo thành môi trường lịch sử hoặc mội trường xây dựng” [20, tr. Theo Luật Di sản văn hóa được thông qua tại kỳ họp thứ 9 khóa X.
Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: “Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác 11 ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” [29, tr12]. Đối với bất cứ quốc gia nào thì di sản văn hóa đều là thành quả của một quá trình hình thành, gìn giữ, bảo vệ,… được chuyển giao qua các thế hệ. Với dân tộc Việt Nam, có một lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước, di sản văn hóa phản ánh tiến trình đó, nó chính là sự kết tinh những giá trị vật chất tinh thần trải qua hàng nghìn năm lịch sử. Vì thế hệ thống kho tàng di sản văn hóa Việt Nam đã minh chứng cho sức sống trường tồn của dân tộc, làm nên diện mạo, lối sống, tính cách của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Theo Luật Di sản văn hóa được kỳ họp thứ 9 - Quốc hội Khóa X nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (29/6/2001) thông qua thì kho tàng di sản văn hóa Việt Nam bao gồm: Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể. * Di sản văn hóa vật thể: là toàn bộ những sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được hình thành trong tiến trình lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. * Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng: trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức nhân gian khác. * Di tích Theo tác giả Nguyễn Như Ý trong quyển Đại từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2013 cho rằng di tích có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất: “ Di tích là các loại dấu vết của quá khứ chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khảo cổ 12 học nghiên cứu”; nghĩa thứ hai: “Di tích là di sản văn hóa lịch sử bất động: di sản văn hóa [54, tr.
Bên cạnh định nghĩa của tác giả Nguyễn Như ý về di tích, các tác giả trong cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ lại cho rằng: “Di tích là dấu vết xưa còn lại” [52, tr. Theo luật Di sản văn hóa, di tích được phân loại như sau: - Loại hình di tích lịch sử. - Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật. - Loại hình di tích khảo cổ học.
- Loại hình di tích danh lam thắng cảnh. + Loại hình di tích lịch sử bao gồm: những công trình địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; gắn với lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến như khu di tích Hồ Chủ tịch, Định Hóa…. + Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. + Loại hình di tích khảo cổ học là: cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để lại có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học.
Theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích được chia thành 3 loại: - Di tích quốc gia đặc biệt - Di tích quốc gia - Di tích cấp tỉnh 13 + Di tích quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thủ tướng chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghị tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới. + Di tích quốc gia: là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia.
+ Di tích cấp tỉnh: là di tích của địa phương. Địa phương lập hồ sơ trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh. Các di tích được hình thành từ hoạt động lao động sáng tạo của con người trong quá trình dựng nước và giữ nước, tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể vừa phong phú vừa đa dạng về các loại hình. Trải qua thời gian những sản phẩm đó được tồn tại đến ngày nay, có những sản phẩm mang những giá trị có tính chất tiêu biểu, đặc trưng về lịch sử văn hóa, khoa học nên được công nhận là di tích.
*Di tích lịch sử - văn hóa Di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc. Di tích là những gì còn lại qua thời gian. Những di tích lịch sử - văn hóa là những nguồn sử liệu trực tiếp, cho những thông tin quan trọng để khôi phục các trang sử hùng tráng của dân tộc. Đó là những tài sản quý giá mà cha ông ta để lại 14 cho hậu thế, qua di tích lịch sử - văn hóa, ta hiểu sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa dân tộc.
Di tích lịch sử - văn hóa là dấu tích, vết tích còn lại. Mỗi nước cũng đưa ra những khái niệm về di tích lịch sử - văn hóa của dân tộc mình. Điều 1, Hiến chương Vernice quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay một biến cố về lịch sử” [21, tr. Ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm quy định về Di tích lịch sử - văn hóa, thông thường nhất theo từ điển Bách Khoa thì: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học… Di tích là di sản văn hóa - lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [22, tr.
Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN của Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh quy định rõ: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội [23,tr. Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa 2009 quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [30, tr. 15 Như vậy có nhiều khái niệm khác nhau về di tích lịch sử văn hóa, nhưng các khái niệm đó đều có chung nội dung: Di tích lịch sử - văn hóa là công trình những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại. * Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa Quản lý nhà nước về di sản văn hoá có thể hiểu là quản lý hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, trước hết để giữ gìn lâu dài các giá trị văn hóa tiêu biểu của đất nước hiện đang tích hợp, vật chất hóa trong các di sản văn hóa với tư cách là nguồn thông tin khoa học chân thực, có khả năng cung cấp tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm sống, bài học lịch sử có ích cho xã hội.