mở đầu thời kỳ tự chủ của dân tộc sau hàng nghìn năm Bắc thuộc. Nơi đây còn là đất dụng võ. Có từ các đời Lý, Trần, Lê… mỗi khi nhà vua đem quân đi dẹp giặc, đều qua nơi này hạ trại, bàn kế sách, cũng là nơi cầu thiên thần “hồng tế, cự lân” con cháu vua Hùng, âm phù dương trợ, theo giúp nhà vua dẹp giặc bảo vệ giang sơn bờ cõi. Mảnh đất Cúc Bồ thuận tiện giao thông thuỷ bộ, trên bến dưới thuyền.
Thuyền bè xuôi sông Luộc hướng về phía mặt trời mọc có thể tới cảng Hải Phòng, ra tới biển và đi khắp 4 bể. Nếu ngược phía Tây, lại có thể nhập vào sông Hồng, ngược lên Lào Cai. Từ thế kỷ XIV – XV, người Trung Hoa, người Nhật, Hà Lan muốn về Phố Hiến, Thăng Long giao thương buôn bán đều phải qua bến Gọc, một thời nổi tiếng là bến của “phố khách” và chợ Gọc nổi danh một trung tâm buôn bán của phủ Ninh Giang. Ngày nay, từ đền thờ Khúc Thừa Dụ, những tuyến đường xe khách về Thành phố Hải Dương, thủ đô Hà Nội, Thành phố cảng Hải Phòng hoặc các tỉnh cực Nam,… tất cả đều thuận lợi.
15 Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, làng Cúc Bồ ngày nay đã thay đổi nhiều về địa giới hành chính cũng như dân cư. Dân số hiện nay là 3.217 người, tổng diện tích làng trên 30 ha, chia thành nhiều xóm với 4 đội sản xuất. Dân sinh sống ở làng Cúc Bồ hiện nay gồm 8 họ, là họ Bùi, họ Hoàng, họ Tăng, họ Nguyễn, họ Đặng, họ Đoan, họ Phạm, họ Phan. Cũng giống như các làng quê Việt Nam khác, làng Cúc Bồ là làng nông nghiệp, trọng nông.
Tuy nhiên, làng còn nổi tiếng với nghề mộc truyền thống, có lịch sử cách đây hơn 400 năm. Nghề mộc phát triển tạo đời sống no đủ, khá giả cho người dân, nhưng không phải vì thế mà nghề nông bị coi nhẹ. Dù làm mộc nhưng gia đình nào cũng vẫn giữ ruộng trồng lúa, đời sống của người dân làng không bị thương mại hoá giống như một số làng nghề khác trên cả nước. Người dân làng Cúc Bồ chất phác, thuần hậu, mang bản chất bình dị của người nông dân Việt Nam.
Với những giá trị văn hoá truyền thống cũng như hiện đại, người dân Cúc Bồ đã chung tay xây dựng đời sống văn hoá ở địa phương, và làng Cúc Bồ đã vinh dự được đón bằng công nhận làng văn hóa vào năm 1998. Trên nhịp phát triển sôi động của nền kinh tế thị trường, thì làng Cúc Bồ vẫn giữ được những nét bình dị, yên ả vốn có, tiêu biểu cho làng quê Việt ở Đồng bằng châu thổ sông Hồng. Họ Khúc với công cuộc khôi phục quyền tự chủ nƣớc Việt thế kỷ X 2. Khúc Thừa Dụ xây dựng nền độc lập từ thế kỷ X Nhiều tài liệu chép rằng: Từ năm 774 – TCN Vua Chiêu Hầu nước Tấn phong cho cụ Thành Sư con út của Vua Mục Hầu ra cai quản đất Khúc Ốc (nay thuộc huyện Văn Hỷ tỉnh Sơn Tây – Trung Quốc).
Thành Sư lấy tên đất làm họ của mình “Khúc Ốc”. Đến đời 19 thì bỏ chữ “Ốc” giữ lại chữ “Khúc”. Theo “Cẩm nang thị tính” năm 756 SCN Khúc Hoàn viên quan Tiết Độ Sứ đất Hứa được vua Đường Túc Tông phái đi làm Kinh – lược sứ đất Giao Châu. Nhân đó, ông đưa con cháu sang cắm dinh, lập ấp tính kế lâu dài.
Ở Hồng Châu họ Khúc có từ đấy. Tính đến Khúc Thừa Dụ là đời bốn, Khúc Hạo là đời năm, Khúc Thừa Mỹ là đời sáu. Sách cũ viết: Họ Khúc “Là một đại cự tộc, đời đời nối nhau làm Hào trưởng, gia đình giàu có, đất ruộng mênh mông, tôi tớ nhiều vô kể”. Bởi thế vùng phụ cận làng Cúc Bồ, xuất hiện nhiều trang trại và 16 làng nghề như: Trại Mụ, Trại Mỹ, Ngọc Điền Trang, Trại Sặt, Trại Chuông, Trại Hán, Trại Vàng, Trại Hào, Ấp Quốc, Quán Ải…Và các làng nghề: nghề chế biến lương thực thực phẩm ở Cúc Thị, dệt vải ở Đà Phố, đan dậm ở Văn Diệm, chõng tre ở Bùi Xá, nơm, lưới, vó ở Phủ Tải, đó, lờ ở Thủ Sĩ, nong nia ở làng Đụn, Dần, sàng ở La Khê.
Buôn bán ở ba làng Bói (Bói Giang), giò chả ở Tân Hương, rượu ở Bồng Lai…trồng rau Cần ở An Lãng. Đặc biệt làng Cúc Bồ có nghề làm Đình đã một thời nổi tiếng xứ Đông. Nhà Đường suy vong, Chu Toàn Trung tìm cách giết Đường Chiêu Tông và Đường Tuyên Đế lên ngôi rồi thoán nghịch cướp ngôi, khiến Trung Quốc náo loạn. Các nước nổi dậy tiêu diệt lẫn nhau.
Sử Trung Quốc gọi là “Ngũ đại – Thập quốc”(5 đời 10 nước). Chớp thời cơ, Khúc Thừa Dụ ráo riết chiêu mộ nghĩa binh, tích trữ lương thực, chuẩn bi khởi nghĩa. Nhờ tài cao, đức dày, các nơi đều theo về rất đông. Năm 905, Ông mang quân đánh Tống Bình rồi tự nhận mình là “Tiết Độ Sứ” mới thay Độc Cô Tổn.
Chiếm được Tống Bình. Khúc Thừa Dụ nhanh chóng cắt đặt quan lại giữ những chức vụ chủ yếu và ra lệnh cho phép quan quân nhà Đường hồi quốc, sĩ tốt người Việt bị ép đi lính thì cho về đoàn tụ với gia đình. Có người bàn: "Nhân cơ hội này, lên ngôi chí tôn, đặt Quốc hiệu, Niên hiệu cho chính danh". Khúc Thừa Dụ gạt đi và nói rằng: "Điều cốt yếu là giành và giữ cơ đồ.
Chính danh phận mà rốt cuộc gây nguy hại cho điều cốt yếu kia, phỏng có ích gì!" Từ khi lên nắm quyền Khúc Thừa Dụ đã liên tiếp ban hành nhiều chính sách tích cực, tiến bộ, được lòng dân trong nước, tránh được sự hậm hực của bọn phong kiến Trung Quốc. Sử cũ ghi: “Khơi dựng cơ nghiệp lớn là Khúc Thừa Dụ. Người rất nhân ái và khoan hòa, ai ai cũng mến mộ” theo về (Ngô Thì Sĩ). Trước việc đã rồi, tháng giêng năm Bính Dần (906) Vua Đường buộc phải phong cho Khúc Thừa Dụ chức “Tĩnh hải Tiết Độ Sứ” (chức quan cao nhất ở nước ta).
Sau này phong cho tước “Đồng Bình Chương sự” (có thêm quyền 17 được phép thay mặt triều đình quyết đoán các việc lớn nhỏ, được ngồi cùng Vua bàn việc quốc trọng). Tuy chưa đặt quốc hiệu, xưng đế, xưng vương, trên danh nghĩa tự coi mình như một quan lại nhà Đường “Về thực chất Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền Tự chủ, Giành lấy chính quyền. Khúc Thừa Dụ đã kết thúc về cơ bản ách thống trị hơn 1000 năm phong kiến phương Bắc” (Lịch sử Việt Nam tập 1). Ngày 23 tháng 7 năm Đinh Mão, Khúc Thừa Dụ tạ thế.
Con là Khúc Hạo nối nghiệp cha. Trên bức cuốn thư thờ tại Đình làng được tạo dựng năm 1940 niên hiệu Bảo Đại có ghi “Tổ linh thiêng biến hóa trên đời. Muốn phúc lớn phải có lòng tôn quý. Lòng nhân từ lớn lao.
Trí tuệ thần thông quảng đại mênh mông. Đạo nhân sâu nặng. Xưa nay vẫn tích tụ sự trong sáng. Ngàn thu mãi mãi lưu truyền”.
Ngày nay, du khách vào khu Đền mới vừa xây dựng đã gặp đôi câu đối trạm khắc trên trụ đá lớn trước cửa Đền: Hưng Nam tráng khí sơn hà tại Cự Bắc dư linh Miếu vũ trường. Nghĩa: Hưng vượng cõi Nam, tráng khí còn mãi với sông núi Chống cự phương Bắc dư linh bền vững tại miếu đường. Truyện ít biết về Khúc Thừa Dụ Khúc Thừa Dụ là người thông minh. Theo dã sử trong tập sách có tên là “Bán Đại Văn” (Nửa đời nghe).
Có kể hai mẩu chuyện về Khúc Thừa Dụ, khi còn là thiếu niên 10 tuổi. *Truyện thứ nhất: Dùng mẹo trong hội chọi trâu Truyện kể rằng ở Hồng Châu thời ấy có tục chọi trâu. Làng của Khúc Thừa Dụ đã đi nhiều nơi mua được những trâu chọi to, khỏe. Song mỗi lần thi đều không giật được giải nhất.
Mọi người rất buồn, lấy đó là điều xỉ nhục. Năm ấy, sắp đến hội thi, thấy mọi người buồn phiền. Khúc Thừa Dụ bước tới chắp tay thưa với cha và chức sắc trong làng rằng: 18 - Năm nay, nhất định trâu làng ta sẽ thắng. Nhất định như thế mà.
Một người lớn tuổi nói với Khúc Thừa Dụ: - Cả làng đang lo, không biết tìm đâu ra trâu tốt. Cháu biết gì mà chen vào? Khúc Thừa Dụ lễ phép thưa: - Thưa các cụ, mấy con trâu mua về năm ngoái đã quá đủ để thắng cuộc. Con xin vì làng mà mạnh dạn hiến kế chỉ xin các cụ và cha giữ bí mật đến cùng. Mọi người bằng lòng.
Khúc Thừa Dụ thưa: Năm nào mỗi làng đều mang ba con trâu đến thi “chọi” gồm: Nhất đẳng, Nhị đẳng, Tam Đẳng. Trâu ở đẳng nào thì chọi với trâu ở đẳng ấy. Nay nếu lấy trâu Nhất đẳng của làng ta chọi với trâu Nhất đẳng của làng bên thì trâu làng ta ắt thua. Tương tự các trâu chọi khác cũng như vậy.
Nay ta có cách chọi mới: Lấy trâu “Tam đẳng” của làng ta, chọi với trâu “Nhất đẳng” của làng bên, trâu của làng ta sẽ thua do đó làng bên rất hý hửng…Rồi ra lấy trâu “Nhất đẳng” của làng ta chọi với trâu “Nhị đẳng” của làng bên, lấy trâu “Nhị đẳng” của làng ta chọi với trâu “ Tam đẳng” của làng bên. Hai trận sau ta thắng. Rốt cuộc 3 trận giao tranh, ta thắng 2. Như thế là ta thắng cuộc.
Mọi người rất vui, cho đó là diệu kế. Đúng như vậy, cuộc thi chọi trâu năm ấy, trâu làng nhà giật giải. Sau truyện này ai cũng cho rằng Khúc Thừa Dụ mai sau sẽ là đấng kỳ tài trong thiên hạ, có thể thấy trước các việc chưa xảy ra. Trăm họ được nhờ ơn không phải là ít.
*Truyện thứ hai: Dùng trâu đuổi giặc Khi Khúc Thừa Dụ đã là một thanh niên cường tráng, nối nghiệp cha làm Hào Trưởng. Ông thường tìm cách chiêu nạp hào kiệt. Tất cả người đến với ông đều mượn danh là gia khách. Họ về đây “Tụ nghĩa” chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền.
Bọn giặc đánh hơi thấy, bèn sai quân sĩ đến “thăm” nhà Hào trưởng để dò la thực hư. Biết chuyện ấy, có người khuyên ông: Nên tiêu diệt bọn này rồi thừa cơ dốc binh quét sạch quân giặc ra khỏi bờ cõi. 19 Ông mỉm cười, rồi gọi những người thân tín đến, ông nói: - Ta đã hiểu ý đồ của giặc. Nay giặc tuy yếu nhưng sức ta chưa mạnh.
Ta đánh thắng một trận nhỏ chẳng đủ bù cho tổn thất lớn sau này. Vì thế ta có ý định làm thế này, thế này… Về sau, dân làng ai cũng biết.