Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan di tích Chùa Phước Lâm Chương 2. Thực trạng quản lý di tích chùa Phước Lâm Chương 3. Nguyên tắc, quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý di tích chùa Phước Lâm 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN DI TÍCH CHÙA PHƢỚC LÂM 1.
Một số khái niệm - Di sản văn hóa Tác giả Bùi Hoài Sơn cho rằng “Di sản là sản phẩm của thời hiện tại, phát triển nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại đối với nó và được định hình bởi những yêu cầu ấy” [23,tr2], “di sản có giá trị đối với một quốc gia, dân tộc” [24,tr1]. Nhà nghiên cứu Lưu Trần Tiêu với quan điểm: Di sản văn hóa là toàn bộ những sản phẩm vật chất (hay còn gọi là vật thể) và tinh thần (hay còn gọi là phi vật thể), có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, do con người sáng tạo và tiếp nhận trong điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế -xã hội của mình, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [31, tr. Theo Nghị quyết Trung ương 5 -Khóa VIII nêu rõ: Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để tạo ra những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng và bảo tồn, kết thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể [6, tr.
Theo Điều 1, Luật di sản Văn hóa “Di sản văn hoá quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Phân loại theo Điều 4, luật di sản văn hóa thì di sản văn hóa “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”. Tổ chức 13 UNESCO, trong phiên họp thứ 32 tại Paris năm 2003 đã xác định khái niệm: "Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người” Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. “Di sản văn hóa vật thể - những thực thể vật chất (tồn tại vật lý) được cấu thành bởi các loại vật liệu khác nhau nên không có khả năng trường tồn mãi mãi cùng nhân loại.
Chúng ta, chỉ có thể bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại có trong tay kéo dài tuổi thọ, làm cho dạng vật chất đó ổn định, vững chắc (mang tính tạm thời). Đã là dạng vật chất thì, tất yếu phải chịu tác động bởi quy luật tự hủy hoại của tự nhiên. Thực tế nói trên, buộc người ta phải thay đổi quan niệm về tính nguyên gốc của di sản văn hóa. Người Nhật đã đi tiên phong trong lĩnh vực này khi đưa ra khái niệm tính chân xác của di sản.
Di sản văn hóa phi vật thể, tồn tại phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành vi của các chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản. Trong những trường hợp cá biệt, chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản là một cộng đồng cư dân, thì ý chí, khát vọng, nhu cầu, thậm chí lợi ích của họ cũng có tác động không nhỏ đến sự tồn vong của di sản văn hóa phi vật thể. Và, chính họ là nhân tố quyết định những di sản văn hóa phi vật thể nào cần được bảo tồn, phương cách bảo tồn, sử dụng và khai thác chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu 14 hưởng thụ văn hóa của cá nhân và cộng đồng” [2]. Với khái niệm này giúp chúng ta phân định rõ giữa yếu tố vật thể và phi vật thể.
Tuy nhiên thực tế, di sản thường tồn tại hai yếu tố trên, tức là di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn, là cốt lỗi, là biểu hiện tinh thần của di sản văn hóa vật thể. - Di tích, di tích lịch sử - văn hóa, di tích kiến trúc- nghệ thuật + Di tích Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử [38]. Di tích ở một giới hạn nào đó, là sản phẩm mang tính văn hóa của con người để lại trong lịch sử. là một trong nhiều minh chứng để xác nhận ông cha ta và chính chúng ta là ai trong bước đường tiến tới tương lai, chúng là phần cụ thể nhất của bản sắc văn hóa dân tộc [3,tr.
“Di tích là các loại dấu vết của quá khứ chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khảo cổ học nghiên cứu”, hai là “Di sản văn hóa lịch sử bất động: di sản văn hóa” theo Đại Từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, xuất bản năm 2013. + Di tích lịch sử - văn hóa Theo Luật di sản “ Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [27]. Trong cuốn Di tích - Lịch sử - Văn hóa và Danh thắng Việt Nam nhà nghiên cứu Dương Văn Sáu cho rằng "Di tích lịch sử - văn hóa là những khu vực, địa điểm, các công trình với quy mô và tính chất khác nhau, ở đó lưu giữ và ghi lại những dấu ấn về các sự kiện - nhân vật lịch sử tiêu biểu có tác động, ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếp hoặc gián tiếp đến tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của địa phương, đất nước và dân tộc” [21, tr. Chùa Phước Lâm với tư cách lag một di tích lịch sử - văn hóa với tư cách là một cơ sở sinh hoạt tôn giáo.
15 + Di tích kiến trúc- nghệ thuật Theo Luật di sản “Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. - Giá trị Theo J.Fichter nhà xã hội học hiện đại Mỹ, khái niệm giá trị được diễn giải: “Chúng ta có thể nói rằng, tất cả những gì có ích lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với con người hoặc nhóm người điều là một giá trị” [14, tr. Ngô Đức Thịnh cũng đề xuất một định nghĩa tương đối toàn diện về khái niệm giá trị.
Theo ông “Giá trị là quan niệm về cái có ý nghĩa, được cộng đồng xã hội lựa chọn, cùng nhau chia sẻ và tôn vinh. Đối với mỗi thành viên trong nhóm, giá trị là cái đáng ước ao và khi đạt được sẽ bùng nổ sự thăng hoa tinh thần. Chính vì vậy thực thi giá trị có tác dụng điều tiết đối với hoạt động của con người, tìm hiểu giá trị có giá trị giúp ta tiếp cận các động lực ẩn tàng trong đời sống xã hội” [28, tr. Xem xét thuật ngữ giá trị từ góc độ triết học văn hóa, trong cuốn Từ điển Bách Khoa Việt Nam (tập 2), xuất bản năm 1995 cho rằng giá trị “Là phạm trù triết học xã hội học chỉ tính có ích, có ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người” [11, tr.96]; Xem xét thuật ngữ này từ góc độ giá trị học, các nhà ngôn ngữ học trong công trình này cho rằng giá trị là “Phạm trù kinh tế nói lên thuộc tính của hàng hóa do lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa (lượng lao động xã hội cần thiết đã được vật hóa trong hàng hóa) quyết định” [11, tr.
Khác với các nhà triết học, các nhà khoa học xã hội xem giá trị là “Những mối quan tâm, thích thú, những ưa thích, những sở thích, những bổn phận, 16 những trách nhiệm, những ước muốn, những nhu cầu, những ác cảm, những lôi cuốn và nhiều hình thái khác của định hướng lựa chọn. Giá trị mà cái ta cho là đáng có, mà ta thích, ta cho là quan trọng để hướng dẫn cho hành động của ta. Giá trị là sự đánh giá trên quan điểm cá nhân, vì vậy, giá trị của sự vật, hiện tượng không giống nhau ở từng cá nhân khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những giá trị trong nhiều nền văn hóa khác nhau đều thừa nhận và có xu hướng trường tồn như tự do, bình đẳng, bác ái, hạnh phúc…” [22, tr.
Đồng quan điểm nhưng ngắn gọn hơn, tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt thì giá trị có các trường nghĩa “1- Cái được xác định có ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất và tinh thần: quyển sách này rất có giá trị; 2- xác định hiệu lực của một việc làm: giấy giới thiệu này có giá trị trong 3 ngày; 3- Kết quả của mọi điều kiện để sản xuất ra hàng hóa. 4- Số đo của một đại lượng, hay số được thay thế bằng một ký hiệu: giá trị của hàm số” [36, tr.