Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VĂN HÓA, QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Quản lý Quản lý là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhưng cho đến ngày nay vẫn có nhiều khác biệt trong cách hiểu. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý.
Theo nghĩa chữ Hán, “quản” là trông nom, “lý” là sắp đặt lo liệu công việc. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, đang là vấn đề quan tâm nhiều nhất của các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu lý luận quản lý. Theo tác giả Trần Kiểm thì “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [33, tr. Các Mác đã viết:"Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [14, tr. Vậy hoạt động quản lý gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tổ chức trong xã hội với tư cách là tập hợp những người được điều khiển, phối hợp với nhau theo một cách thức nhất định nhằm đạt mục tiêu nào đó. Để có một hoạt động quản lý diễn ra, một bên là chủ thể quản lý bên còn lại là đối tượng quản lý và cách thức tác động lên đối tượng quản lý, các mục tiêu mà hoạt động 14 quản lý hướng đến. Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức và định hướng của một chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, nhằm duy trì sự ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục tiêu nhất định, mục tiêu đó có thể do các thành viên trong tổ chức tự thống nhất với nhau, hoặc do người đứng đầu tổ chức xây dựng và giao tổ chức thực hiện.
Quản lý nhà nước về văn hóa Quản lý văn hoá là công việc của Nhà nước là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam. Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho mỗi công dân thực hiện quyền cơ bản của mình trong đó có quyền về tự do về văn hóa như quyền tự do về ngôn luận, quyền học tập, quyền sáng tác, phê bình văn học nghệ thuật, nhu cầu tín ngưỡng, tham quan di tích, danh lam thắng cảnh…Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong giải quyết các mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và văn hóa, Nhà nước còn có vai trò định hướng cho sự phát triển văn hóa theo hướng đã được xác định là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Ngoài ra, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn. Nhà nước quản lý văn hóa được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hoá, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội bền vững của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung.
“Có thể chia hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa thành các mảng cơ bản sau: 15 - Quản lý nhà nước về văn hóa nghệ thuật; - Quản lý nhà nước về văn hóa xã hội; - Quản lý nhà nước về di sản văn hóa.469] Xét ở góc độ vĩ mô, QLVH đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng lâu dài cho sự phát triển văn hoá của đất nước. Và quản lý nói chung, QLVH nói riêng là một khoa học, không những dựa trên cơ sở lý luận mà còn dựa vào thực tiễn hoạt động của nó. Xét ở góc độ vi mô, những định hướng đúng đắn của QLVH sẽ giúp cho các hoạt động văn hoá ở các địa phương, các vùng miền và các cơ quan, đơn vị sẽ thuận tiện hơn; tránh sự tuỳ tiện, lúng túng trong việc thực thi các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực văn hoá. Quản lý nhà nước về di sản văn hóa 1.
Khái niệm di sản văn hóa Khái niệm “di sản văn hóa” với tư cách là thuật ngữ khoa học đã có một quá trình hình thành lâu dài. Chính thuật ngữ này lại được hình thành và được biết đến từ cuộc Cách mạng tư sản Pháp (1789). Do quá trình tịch thu tài sản của tầng lớp quý tộc, nhà thờ và của các tăng lữ thành tài sản quốc gia sau Cách mạng tư sản Pháp, từ đó hình thành khái niệm di sản. Để tránh thất thoát và hủy hoại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả, sắp xếp, phân loại tài sản (các công trình lịch sử, các tác phẩm nghệ thuật, các tài sản khác…) để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn di sản quốc gia; di sản lúc đó được hiểu là tài sản chung, tài sản của mọi công dân, đó là ý niệm đã tạo thành ý thức về di sản quốc gia.Khái niệm về di tích Di tích là một khái niệm được sử dụng rất phổ biến trong lĩnh vực văn hóa cùng với những khái niệm khác như di sản, di vật.
Từ điển tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam cho rằng “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn hóa" [52, tr. 16 Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc. Di tích là những gì còn lại qua thời gian. Những di tích lịch sử văn hóa là những nguồn sử liệu trực tiếp, cho những thông tin quan trọng để khôi phục các trang sử hùng tráng của dân tộc.
Đó là những tài sản quý giá mà cha ông ta đã để lại cho hậu thế, qua di tích lịch sử văn hóa, ta hiểu sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa dân tộc. Di tích lịch sử văn hóa là dấu tích, vết tích còn lại. Mỗi nước cũng đưa ra những khái niệm về di tích lịch sử văn hóa của dân tộc mình. Điều 1, Hiến chương Vermice quy định: Di tích lịch sử văn hóa bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay một biến cố về lịch sử [33, tr.
Di tích khảo cổ học được sử dụng lần đầu tiên là “archaeological property” trong Hiến chương Athens về Trùng tu di tích lịch sử (1931), sau đó tiếp tục được sử dụng trong Khuyến nghị của UNESCO về các nguyên tắc quốc tế áp dụng cho khai quật khảo cổ (1956) là “archaeological heritage”. Phải đến năm 1990, với sự ra đời của Hiến chương về Bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học (Hiến chương Lausanne 1990), khái niệm “di sản khảo cổ học” (archaeological heritage) mới chính thức được sử dụng phổ biến và rộng rãi. Tuy nhiên, những nội hàm của khái niệm “di sản khảo cổ học” là “các di tích, di chỉ” (monuments, sites) vẫn thường xuyên được nhắc đến và nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Theo Hiến chương Lausanne 1990, “Di sản khảo cổ học là bộ phận di sản vật chất mà các phương pháp khảo cổ học cung cấp cho chúng ta những hiểu biết cơ bản về nó.
Di sản này bao gồm mọi vết tích sinh tồn của con người được lưu lại trong những địa điểm liên quan đến mọi hoạt động của con người, trong những cấu trúc đã bị hoang phế, trong những vết tích đủ các loại (cả những di chỉ dưới đất và dưới nước) cũng như các vật liệu văn hóa gắn với các di tích đó”. Tuy nhiên, những nội hàm của khái 17 niệm “di sản khảo cổ học” là “các di tích, di chỉ” (monuments, sites) vẫn thường xuyên được nhắc đến và nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Theo Hiến chương Lausanne 1990, “Di sản khảo cổ học là bộ phận di sản vật chất mà các phương pháp khảo cổ học cung cấp cho chúng ta những hiểu biết cơ bản về nó. Di sản này bao gồm mọi vết tích sinh tồn của con người được lưu lại trong những địa điểm liên quan đến mọi hoạt động của con người, trong những cấu trúc đã bị hoang phế, trong những vết tích đủ các loại (cả những di chỉ dưới đất và dưới nước) cũng như các vật liệu văn hóa gắn với các di tích đó”.
Di sản khảo cổ học có thể hiểu là các công trình, kiến trúc, di tích, di chỉ, hiện vật được phát lộ thông qua hoạt động khai quật, nghiên cứu khảo cổ bất kể trên mặt đất hay dưới nước. Căn cứ theo tính chất, di sản khảo cổ học được xem là một loại hình của di sản văn hóa vật thể, nhưng là một nguồn văn hóa mong manh và không tái sinh được và dễ bị tổn thương bởi những tác động của môi trường và xã hội bởi phần lớn đều là những vết tích, phế tích, cấu trúc không trọn vẹn và không còn duy trì được công năng sử dụng ban đầu nữa.