Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Khi nhận diện về thực trạng nghiên cứu về DSVHVT ở Lào nói chung, thủ đô Viêng Chăn nói riêng hiện nay, có thể thấy một thực tế là các nguồn tài liệu mang tính toàn diện hệ thống về DSVHVT, về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hoá vâ ̣t thể không có nhiều. Nghiên cứu về DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn nói riêng, ở Lào nói chung, vẫn đang là một vấn đề nan giải, khó khăn. Trong số ít ỏi các tài liệu liên quan tìm thấy được, có thể tổng hợp khái quát về tình hình nghiên cứu DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn ở những phương diện sau: 1.
Các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa vật thể ở Lào Năm 1940, Paul Levy đã so sánh những tượng Phật được tìm thấy ở chùa Săng Kra Lộc và chùa Thạt Luổ ng Pha ̣ Bàng mang một số đặc trưng của tượng Phật tìm thấy ở Lô ̣b Bu Ly và Pi Mai (Thái Lan). Qua đó, Paul Levy đã so sánh giữa tượng Phật của Lào và Thái Lan về hình dáng , phong cách nghệ thuật hoạc tiết trang trí gần nhau. Vào những năm 50 của thế kỷ XX, xuất hiện công trình nghiên cứu về nghệ thuật Lào: “Introduction à l'Art Laotien” (Giới thiệu về nghệ thuật Lào), Paris (1954) của Gendron và Parmentier. Hai học giả này đã đi đến một công trình nghiên cứu rất công phu về nghệ thuật Lào.
Trong công trình nghiên cứu, Gendron và Parmentier đã tiến hành khảo sát toàn bộ các lĩnh vực của kiến trúc tôn giáo và nghệ thuật tạo hình Lào như các chùa tháp, tượng Phật và điêu khắc trang trí kiến trúc. Về trang trí, công trình nói trên đã phân tích chủ yếu các mô típ trang trí của nghệ thuật Lào như: ở đầu hồi, cánh cửa. luan an 7 Trong các mô típ trang trí, hoa lá là những yếu tố quan trọng nhất làm nổi bật giá trị thẩm mỹ. Năm 1952, trên cơ sở những công trình khảo cổ học, Henry Devdier và G.
Condominas đã khẳng định đạo Phật ở Lào xuất hiện từ thế kỷ XII. Còn George Coedes cho rằng Phật giáo đã có mặt ở Lào từ đầu thế kỷ XIII do người Mon-Khơme mang từ miền La ̣ Vô (hạ lưu sông Mê Kông) đến với tộc người Lạ va ở vùng thượng lưu sông Mê Kông. Năm 1981, Nguyễn Văn Vinh có bài viết “Ngôi chùa với người Lào” [55]. Tác giả đã đề cập những điểm chủ yếu nhất của ngôi chùa Lào, đặc biệt là vị trí quan trọng của chùa tháp trong đời sống hàng ngày của nhân dân các bộ tộc Lào.
Ngô Huy Quỳnh viết bài “Kiến trúc Lào”đi từ nhận diện kiến trúc dân gian, kiến trúc tôn giáo đến khái quát về kiến trúc Lào. Cũng năm đó, Trần Thị Lý có hai bài viết “Tượng Phật Lào” và “Điêu khắc tượng tròn Đông Nam Á” đăng trên Tạp chí Nghệ thuật Đông Nam Á, trình bày những nét chung nhất về tượng Phật Lào trong lịch sử. Năm 1985, Ngô Văn Doanh [19] đã có những nghiên cứu về nghệ thuật Lào bao gồm kiến trúc, điêu khắc và ca múa nhạc kịch. Ngoài bài viết riêng về kiến trúc và điêu khắc Lào, Ngô Văn Doanh còn trình bày về các nghệ thuật trong khu vực trong số bài viết về nghệ thuật Đông Nam Á.
Theo đó, Ngô Văn Doanh trong cuốn “Nghệ thuật Đông Nam Á”, đã mô tả rất rõ ràng về các ngả đường Phật giáo vào Lào vào thế kỷ XIV, đạo Phật đã được vua Phạ Ngừm đưa lên địa vị quốc giáo và phát huy ảnh hưởng to lớn tới mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, văn hoá và xã hội Lào. Điều này lý giải vì sao hệ thống chùa phát triển mạnh trong giai đoạn này với những đặc trưng về kiến trúc nghệ thuật. Năm 1995, sách “Lịch sử nghệ thuật và kiến trúc Lào” [77] của Bounheng Buasisengpaseuth, giới thiệu những di tích Phật giáo chủ yếu là các ngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ XIV đến nay, trong đó có các công trình luan an 8 tôn giáo ở thủ đô Viêng Chăn. Đồng thời, Bounheng Buasisengpaseuth còn giới thiệu một số di tích khảo cổ đã phát hiện và khẳng định được niên đại của di tích cùng các hiện vật cổ đó.
Có thể nói, công trình của Bounheng Buasisengpaseuth là rất có giá trị khi nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc trong kho tàng DSVHVT Lào. Trong những bài viết in tại kỷ yế u Hội thảo bảo tồn di sản cùng với kỹ thuật và lịch sử Lào”, do Bộ Thông tin và Văn hóa phối hợp với Viện nghiên cứu Viễn Đông của Pháp (EFEO) tổ chức tháng 2 năm 1996 tại thủ đô Viêng Chăn, “ [64], có công trình của Francis Bizot (EFEO) nhan đề “Bảo vê ̣ di sản”. Công trình này nghiên cứu bảo tồn di sản quốc gia với những tác động từ khách du lịch. Các DSVH đã tham gia vào quá trình phát triển nhưng cũng có nhiều vấn đề mới nảy sinh như: doanh nhân nước ngoài quá chú trọng đến lợi ích cá nhân, không quan tâm tới lợi ích chung; DSVH dễ bị xâm hại… Ngoài những vấn đề về bảo tồn di sản, Francis Bizot nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc bảo tồn di sản.
Để các di sản thực sự phát huy vai trò quan trọng đó, là ngoài vai trò định hướng của Nhà nước cần phải có sự nhận thức, suy nghĩ và chung tay hành động của cả cộng đồng. Cũng trong tài liệu này, Pierre Pichard là kiến trúc sư của (EFEO) từ Ấn Độ viết bài “Trùng tu”. Bài viết cho chúng ta nhiều kinh nghiềm về việc bảo vệ kiến trúc cổ được làm từ chất liệu đá, đất nung, gỗ của Châu Á. Trong đó, tác giả cũng trình bày rất kỹ về DSVH của từng nước ở châu Á trong tâm thức của con người qua cách nhìn mô phỏng.
Đặc biệt, bài viết nhấn mạnh đến các công nghệ xử lý vật liệu và cách thức sử dụng các công cụ để xây dựng nên các di sản. Đây là những yếu tố quan trọng của DSVH cần phải bảo tồn, giữ gìn. Trong đó Bounthieng Silipraphan nêu lên “Ý kiến chung về nghê ̣ thuâ ̣t của Lào và trang trí điể m đặc biệt” in trong kỷ yế u Hội thảo "Bảo tồn di sản cùng với kỹ thuật và lịch sử Lào" [64]. Bounthieng Silipraphan đã triǹ h bày những ý kiế n chung về nghệ thuật trang trí Lào và những đặc trưng của các bộ môn nghệ thuật này.
Trong luan an 9 đó, Bounthieng Silipraphan chỉ ra một số nguyên nhân làm mấ t mát và biến dạng các di tích. Ngoài ra, Bounthieng Silipraphan còn giới thiệu về đặc trưng và phong cách nghệ thuật các miền của Lào như: phong cách của nghệ thuật tỉnh Luổng Phạ Bàng, giơí thiệu các hoa văn, phong cách được thể hiện tại ngôi chùa và ngọn tháp, đồng thời cách vẽ hoa văn để tạo nên tác phẩm nghệ thuật có giá trị về văn hóa. Francis Engelmanh trong công trình “Tổ chức bảo vệ di sản trong khu vực” đã trình bày những vấn đề chung của việc bảo vệ di sản dựa vào khái niệm cơ bản về di sản, đưa ra những yếu tố để bảo vệ di sản, trong đó có yếu tố luật pháp, cơ sở hạ tầng, quy trình quản lý. Để bảo vệ di sản, cần đảm bảo tính thống nhất trong nghiên cứu, chính sách và truyền thông đại chúng.
Qua đó, người dân hiểu và có thái độ hợp tác, hành động phù hợp trong bảo vệ di sản. Cristoper Pottier, một kiến trúc sư của EFEO Ăng Co (Campuchia) đã viết bài “Tái thiết và trùng tu” bàn về các thành phần, cách trùng tu và tái thiết một công trình, một DSVH. Sự khác biệt của tái thiết với trùng tu biểu hiện ở cách làm việc, quy mô, tần số, cấu trúc, chất lượng và giá trị. Lựa chọn trùng tu hay tái thiết phải dựa trên hiện trạng của di sản các dấ u vế t lich ̣ sử và các nền văn minh khác nhau.
Năm 1997, Patrick Gay với công trình “Lanxang Heritages of Lao PDR” (Di sản quý giá của nước Lào) [107] đã giới thiệu về các bộ trang phục cổ truyền, tín ngưỡng tôn giáo của các dân tộc Lào. Ngoài ra, tác giả đề cập đến các DTLS-VH tiêu biểu của Lào. Năm 1997, Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiệu Hương [49] đã viết bài nói về phương pháp tạo hình và phong cách mỹ thuật Châu Á, kiến trúc tháp (Stupa). Ngoài ra, các tác giả cũng mô tả kỹ về nghệ thuật trang trí kiến trúc Phật giáo và nghệ thuật làm tượng của Lào.
Năm 1998, Phạm Đức Dương với “Ngôn ngữ và văn hoá Lào trong bối luan an 10 cảnh Đông Nam Á” [8] đã hình thành một cách nhìn mới về văn hoá Lào. Tác giả đã đưa văn hóa Lào vào bối cảnh Đông Nam Á, định vị văn hóa Lào là văn hóa của cư dân làm lúa nước vùng thung lũng trước núi. Công trình đã làm rõ hơn về các trang trí nghệ thuật trên DSVHVT ở Viêng Chăn, lý giải sâu sắc hơn các hiện tượng văn hóa được biểu hiện trong hệ thống DSVHVT ở đây. Đặc biệt công trình cho thấy cơ sở hình thành nên phong cách đặc trưng của các DSVHVT ở Viêng Chăn.
Năm 2001, Madelàine Giteau trong công trình “Arts et Archeologie du Laos” (Nghệ thuật và khảo cổ học Lào) [100] viết bằng tiếng Pháp đã nghiên cứu về tượng Phật ở Lào. Mặc dù công trình chỉ tập trung khảo sát những pho tượng thuộc bộ sưu tập của Hoàng gia Lào nhưng đã dựng lên một hệ thống có trật tự niên đại khá chặt chẽ của các pho tượng và phân tích những đặc điểm thẩm mỹ của chúng. Năm 2002, ngoài những nhà nghiên cứu phương Tây và nhà nghiên cứu Việt Nam, các học giả Thái Lan cũng nghiên cứu về di tić h lich ̣ sử văn hóa ở Lào. Nổi bật là Somkiart Lophetsarat nghiên cứu “Lao Buddha: the image and its history” (Lịch sử xây dựng hình tượng Phật Lạn xạng) [121], và Sangoan Lotboun “Mỹ thuật Phật giáo Lào” [120].
Các công trình này đã phác họa hình tượng phật ở Lào với nhũng đặc trưng rất riêng, khẳng định những giá trị quý báu mà nhân dân Lào cần phải giữ gìn, phát huy.