Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tên "Di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 922 90 40), do nghiên cứu sinh Somkiethtisack Kingsada thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Toàn Thắng, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2020. Luận án thuộc hướng tiếp cận văn hóa học kết hợp nghiên cứu liên ngành, sử dụng chủ đạo các phương pháp định tính kết hợp thống kê tư liệu thực địa.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Lịch sử dân tộc Lào đã để lại một hệ thống di sản văn hóa phong phú, là minh chứng cho tiến trình lao động sáng tạo, chinh phục tự nhiên và bảo vệ đất nước. Trong đó, thủ đô Viêng Chăn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, có lịch sử hơn 1200 năm, lưu giữ hàng trăm di tích lịch sử - văn hóa gồm các ngôi chùa, ngọn tháp cổ, di chỉ khảo cổ học và các công trình kiến trúc qua các thời kỳ. Trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, Viêng Chăn trở thành đô thị lớn nhất cả nước, dẫn đầu công cuộc phát triển kinh tế và đô thị hóa. Quá trình này mang lại cơ hội phát triển nhưng đồng thời đặt hệ thống di sản văn hóa vật thể trước áp lực lớn từ thiên nhiên, thời gian, sự xâm hại của con người và quá trình xây dựng hạ tầng đô thị.
Trước khi luận án được thực hiện, các học giả trong và ngoài nước đã có những công trình đề cập đến từng di tích riêng lẻ hoặc từng khía cạnh kiến trúc, mỹ thuật của một số ngôi chùa, tháp tại Viêng Chăn. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tiếp cận một cách toàn diện, hệ thống và chuyên biệt về toàn bộ hệ thống di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn dưới góc nhìn của chuyên ngành Văn hóa học. Khoảng trống này đòi hỏi một nghiên cứu hệ thống hóa các di sản, xác định đặc điểm, giá trị và đề xuất giải pháp bảo tồn thích ứng trong bối cảnh đương đại.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn hiện nay, từ đó góp phần vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của hệ thống di sản này trong sự phát triển chung của thủ đô.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan và chỉ rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn mà luận án tiếp tục nghiên cứu.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng giá trị di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn.
- Tìm hiểu các yếu tố tác động, các vấn đề đặt ra và khuyến nghị các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể tại thủ đô Viêng Chăn trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống di sản văn hóa vật thể tiêu biểu có tính đại diện ở thủ đô Viêng Chăn đã được đề cập trong Luật Di sản Quốc gia năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
- Phạm vi nội dung: Tập trung làm rõ các đặc điểm và giá trị của di sản văn hóa vật thể tại thủ đô Viêng Chăn.
- Phạm vi không gian: Khảo sát các di tích tiêu biểu trên địa bàn các quận, huyện thuộc thủ đô Viêng Chăn.
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ thời kỳ đổi mới của Lào (năm 1986) đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2020).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành điểm luận một khối lượng tư liệu học thuật phong phú, chia thành hai nhóm công trình chính:
Các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa vật thể ở Lào
- Nghiên cứu thời kỳ thuộc Pháp và quốc tế thế kỷ XX: Paul Levy (1940) nghiên cứu so sánh tượng Phật tìm thấy ở chùa Săng Kra Lộc và chùa Thạt Luổng Phạ Bàng với phong cách tượng Phật tại Lộc Bu Ly và Pi Mai (Thái Lan). Gendron và Parmentier (1954) xuất bản công trình "Introduction à l'Art Laotien" tại Paris, khảo sát quy mô kiến trúc tôn giáo, nghệ thuật tạo hình, hoa văn điêu khắc đầu hồi, cánh cửa chùa tháp Lào. Henry Devdier và G. Condominas (1952) khẳng định Phật giáo xuất hiện ở Lào từ thế kỷ XII; trong khi George Coedes nhận định đạo Phật do người Môn - Khơme đưa từ miền Lạ Vô đến vùng thượng lưu sông Mê Kông vào đầu thế kỷ XIII.
- Nghiên cứu của các tác giả Việt Nam: Nguyễn Văn Vinh (1981) với bài viết "Ngôi chùa với người Lào"; Ngô Huy Quỳnh phân tích "Kiến trúc Lào"; Trần Thị Lý (1981) công bố "Tượng Phật Lào" và "Điêu khắc tượng tròn Đông Nam Á". Ngô Văn Doanh (1985) trong cuốn "Nghệ thuật Đông Nam Á" chỉ rõ sự kiện vua Phạ Ngừm đưa Phật giáo lên địa vị quốc giáo vào thế kỷ XIV, giải thích sự phát triển mạnh của kiến trúc chùa tháp. Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiệu Hương (1997) phân tích phương pháp tạo hình và kiến trúc tháp Stupa. Phạm Đức Dương (1998) với "Ngôn ngữ và văn hóa Lào trong bối cảnh Đông Nam Á" định vị văn hóa Lào là văn hóa của cư dân nông nghiệp lúa nước vùng thung lũng chân núi. Nguyễn Lệ Thi (2009) trong "Nghệ thuật Ấn Độ giáo và Phật giáo Lào" xác định năm phong cách nghệ thuật Phật giáo: Viêng Chăn, Viêng Khăm, Luổng Phạ Bàng, Chăm Pạ Sắc và Xiêng Khoảng.
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế năm 1996: Do Bộ Thông tin và Văn hóa Lào phối hợp Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tổ chức tại Viêng Chăn với chủ đề "Bảo tồn di sản cùng với kỹ thuật và lịch sử Lào", gồm các tham luận của Francis Bizot ("Bảo vệ di sản"), Pierre Pichard ("Trùng tu" vật liệu đá, đất nung, gỗ), Bounthieng Silipraphan ("Ý kiến chung về nghệ thuật của Lào và trang trí điểm đặc biệt"), Francis Engelmanh ("Tổ chức bảo vệ di sản trong khu vực"), Cristoper Pottier ("Tái thiết và trùng tu").
- Các chuyên khảo chuyên sâu khác: Bounheng Buasisengpaseuth (1995, "Lịch sử nghệ thuật và kiến trúc Lào"), Patrick Gay (1997, "Lanxang Heritages of Lao PDR"), Madelaine Giteau (2001, "Arts et Archeologie du Laos"), Somkiart Lophetsarat (2002, "Lao Buddha: the image and its history"), Sangoan Lotboun (2002, "Mỹ thuật Phật giáo Lào"), Champhon Vongsa (2007, nghiên cứu chùa Xiêng Thoỏng), Arne Kislenko (2009, "Culture and Customs of Laos"), Phadone Insaveang (2011, di sản Luổng Phạ Bàng), Siviêngsay Phomarath (2014, quản lý chùa Phu Chăm Pạ Sắc), Khamphouphet Vanivong (2019, luận án tiến sĩ về di sản kiến trúc khu phố Pháp tại Xạ Vặn Nạ Kệt).
Các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn
- Khảo cổ học và lịch sử kiến trúc: D. Barbetti và Th. Sayavongkhamdy (1992) báo cáo kết quả khai quật lò gốm cổ Sisattanak (Sisattanak Kiln site). Shimizu Naho (2007) khảo cứu đồ gốm thương mại thu hồi từ thành phố cổ Viêng Chăn. Sophie Clement-Charpentier và Pierre Clément (2008) nghiên cứu cấu trúc đô thị thời kỳ đầu Pháp thuộc. Michel Lorrillard (2010) với các công trình khảo cổ học về Viêng Chăn và minh văn trên bia ký tại Thạt Luổng do EFEO xuất bản. Himmakone Manotham (2010) biên soạn bộ sách 5 tập "Thủ đô Viêng Chăn 450 năm, nguồn gốc thủ đô Viêng Chăn". Marc Askew, William S. Logan và Colin Long (2010) xuất bản "Vientiane: Transformations of a Lao Landscape". Cục Di sản (2012) công bố kết quả khảo sát qua cuốn sách "Nhà cột mốc ở thành phố Viêng Chăn".
- Nghiên cứu về các di tích đơn lẻ và nghệ thuật tạo hình: Francis Engelmann (1996) và Vilaithong Keomanivong (2002) nghiên cứu kiến trúc, nghệ thuật và lễ hội của Thạt Luổng. Thongmy Duansakda (2003) và Phonesit Yernsengsuly (2015) nghiên cứu kiến trúc, điêu khắc tại chùa Xỉ Xạ Kệt. Bunnam Phongbuapheuun (2003) nghiên cứu mỹ thuật Phật giáo thế kỷ XVI-XVII. Chayphet Sayarath (2005) phân tích quy hoạch và kiến trúc đô thị Viêng Chăn. Viêngphone Soukhavong (2006) khảo sát cụm di tích quận Chăn Thạ Bu Ly. Chome Khathoumphom (2007) tìm hiểu Công viên Phật Xiêng Khuan. Sonesay Thilath (2007) khảo tả di tích Hỏ Phạ Kẹo. Buangeun Phimmachak (2010) thực hiện luận án tiến sĩ về nghệ thuật tạo hình ngôi chùa Lào ở Viêng Chăn. Kheungkeo Keopaseuth (2011) và Bounlom Sayaseng (2016) nghiên cứu chùa Xỉ Mường. Khamsouk Keovongxay (2013) nghiên cứu mô hình Phật điện (Sim) tại Viêng Chăn giai đoạn 1560-1974. Lamphoune Thongdala (2014) khảo sát di tích gắn với du lịch văn hóa. Sutta Khathameunboun (2017) nghiên cứu công tác quản lý Khu di tích lưu niệm Chủ tịch Xu Pha Nụ Vông.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Qua việc tổng lược hệ thống tài liệu trên, tác giả rút ra ba nhận định:
- Hầu hết các công trình đã công bố chỉ tiếp cận di sản ở góc độ khảo cổ học, lịch sử mỹ thuật thuần túy hoặc nghiên cứu riêng lẻ một vài công trình nổi bật như Thạt Luổng, chùa Xỉ Xạ Kệt, chùa Xỉ Mường.
- Chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống toàn bộ di sản văn hóa vật thể trên địa bàn thủ đô Viêng Chăn, chưa chỉ ra mối liên kết logic giữa các di tích trong cấu trúc không gian văn hóa đô thị.
- Chưa có công trình nào xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn thích ứng mang tính khả thi cho hệ thống di sản này trước áp lực đô thị hóa hiện nay dưới góc nhìn chuyên ngành Văn hóa học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên sự đối sánh các khung pháp lý và quan điểm học thuật quốc tế, Việt Nam và Lào:
-
Khái niệm di sản văn hóa và di sản văn hóa vật thể:
- Quan niệm của UNESCO: Dựa trên Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 (phân loại di sản văn hóa vật thể thành: di tích kiến trúc, nhóm công trình xây dựng, di chỉ) và định nghĩa năm 1989 (di sản là tập hợp các biểu hiện vật thể hoặc biểu tượng truyền lại từ quá khứ, là nơi lưu giữ kinh nghiệm nhân loại). Tiếp thu quan niệm của Abraham Moles (di sản là "mã di truyền xã hội", "ký ức tập thể") và Federico Mayor (hệ thống các giá trị tạo bản sắc).
- Quan niệm của Việt Nam: Dựa trên Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh năm 1984, Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi năm 2009), xác định di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Quan niệm của Lào: Dựa trên Pháp lệnh về bảo vệ di sản quốc gia năm 1997 và Luật Di sản Quốc gia năm 2005 (sửa đổi, bổ sung ngày 24/12/2013). Điều 2 luật này xác định di sản quốc gia gồm di sản văn hóa, lịch sử và thiên nhiên dưới dạng vật thể, phi vật thể, động sản và bất động sản.
-
Khái niệm giá trị và tiêu chí xác định giá trị di sản: Luận án sử dụng quan niệm của James People và Garrick Bailey (giá trị là ý tưởng về mục đích, lối sống được xã hội chia sẻ) và định nghĩa từ điển. Tác giả xác lập bốn tiêu chí đánh giá giá trị di sản văn hóa vật thể:
- Giá trị lịch sử tiêu biểu (gắn với sự kiện trọng đại, giai đoạn lịch sử hoặc danh nhân kiệt xuất).
- Giá trị khoa học (phản ánh tri thức, kỹ thuật và sự hiểu biết của con người).
- Giá trị biểu tượng văn hóa (phương tiện kết nối, biểu đạt bản sắc cộng đồng).
- Giá trị thẩm mỹ, đạo đức (các chuẩn mực chân, thiện, mỹ).
-
Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị: Vận dụng quan điểm của Trần Ngọc Thêm; Hiến chương Venice năm 1964 của ICOMOS về bảo tồn tính nguyên gốc; các điều khoản định nghĩa về bảo vệ, bảo tồn, trùng tu trong Luật Di sản Quốc gia Lào. Luận án khẳng định bảo tồn và phát huy là một cặp phạm trù biện chứng: bảo tồn giữ gìn yếu tố gốc làm nền tảng, phát huy đưa di sản vào đời sống để tạo nguồn lực tái đầu tư cho bảo tồn.
-
Tiếp cận sinh thái văn hóa: Luận án vận dụng luận điểm của nhà nhân học Julian Steward về mối quan hệ giữa môi trường và văn hóa, xem di sản văn hóa là yếu tố quan trọng cấu thành môi trường văn hóa - xã hội, bảo vệ sự sống và hình thành nên "hạt nhân văn hóa".
-
Năm vai trò của di sản văn hóa đối với sự phát triển:
- Tạo lập môi trường văn hóa của cộng đồng.
- Là cốt lõi bản sắc dân tộc, cơ sở sáng tạo các giá trị văn hóa mới.
- Là bộ phận hợp thành nền tảng tinh thần của xã hội, tạo động lực tinh thần.
- Là tài sản vô giá, nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội (thông qua hoạt động du lịch, đóng góp vào tỷ trọng 20% vốn đầu tư vào ngành du lịch tại Lào).
- Là cơ sở thúc đẩy giao lưu văn hóa quốc tế.
-
Khung phân loại di sản văn hóa vật thể: Luận án tổng hợp bốn tiêu chí phân loại gồm: phân loại theo chất liệu (đá, gỗ, kim loại); phân loại theo mục đích sử dụng (tôn giáo, hành chính, cư trú, giáo dục); phân loại theo chủ thể quản lý (nhà nước, cộng đồng, tư nhân); phân loại theo phương thức quản lý và bảo tồn (bảo tồn tại chỗ, bảo tồn tĩnh tại bảo tàng, bảo tồn động tại cộng đồng).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận nghiên cứu văn hóa học kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp điền dã (quan sát, tham dự): Khảo sát thực địa, ghi chép, chụp ảnh hiện trạng các công trình di tích, quan sát các sinh hoạt tôn giáo, lễ hội tại các địa điểm di sản ở Viêng Chăn.
- Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS): Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ quản lý văn hóa, chuyên gia nghiên cứu và người dân cư trú tại khu vực di tích về thực trạng sử dụng, bảo tồn di sản.
- Phương pháp thống kê, sưu tầm: Thu thập số liệu kiểm kê di tích, phân loại số lượng chùa chiền theo địa bàn hành chính, số liệu khách tham quan.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý các văn bản pháp luật, tài liệu lịch sử, báo cáo ngành văn hóa để xác lập luận cứ khoa học.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu đặc điểm kiến trúc, điêu khắc giữa Viêng Chăn với các trung tâm văn hóa khác như Luổng Phạ Bàng, Chăm Pạ Sắc và các quốc gia láng giềng.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu sử dụng trong luận án bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Lào (Pháp lệnh 1997, Luật Di sản Quốc gia 2005 sửa đổi 2013); số liệu thống kê của Cục Di sản thuộc Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào; báo cáo của Sở Thông tin, Văn hóa và Du lịch thủ đô Viêng Chăn; tư liệu khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu do chính tác giả thực hiện.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về di sản văn hóa vật thể
Chương này dành cho việc tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (từ trang 6 đến trang 23) và xây dựng hệ thống cơ sở lý luận (từ trang 23 đến trang 42). Tác giả đã hệ thống hóa các định nghĩa pháp lý và học thuật về di sản văn hóa vật thể, xác lập bốn tiêu chí đánh giá giá trị di sản, luận giải cặp phạm trù bảo tồn - phát huy, đồng thời chỉ ra năm vai trò căn bản của di sản văn hóa đối với sự phát triển bền vững của quốc gia và địa phương. Đây là khung lý thuyết nền tảng để triển khai nghiên cứu thực nghiệm ở các chương sau.
Chương 2: Khái quát hiện trạng di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn
Chương 2 trình bày tổng quan về địa bàn thủ đô Viêng Chăn và phân tích hiện trạng hệ thống di sản văn hóa vật thể:
- Bối cảnh địa bàn: Viêng Chăn có lịch sử hơn 1200 năm, trở thành kinh đô từ năm 1560 dưới triều vua Xay Nhạ Xệt Thả Thị Lát. Sau nhiều biến cố chiến tranh, năm 1975 Viêng Chăn tiếp tục là thủ đô của nước CHDCND Lào; năm 1989 được tách thành tỉnh Viêng Chăn và khu đô thị đặc biệt Viêng Chăn. Theo số liệu thống kê năm 2015, thủ đô có 9 quận/huyện, dân số hơn 798.000 người, mật độ bình quân 129 người/km², cư dân chủ yếu là người Lào Lùm cùng cộng đồng người Việt, người Hoa.
- Thống kê hiện trạng: Theo Cục Di sản (Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào), Viêng Chăn có 73 di tích có niên đại trên 50 năm. Trong đó có 6 di tích đã được xếp hạng cấp Quốc gia và các di tích đang trong quá trình lập hồ sơ xếp hạng.
| Nhóm phân loại |
Danh mục di tích cụ thể |
| Di tích xếp hạng cấp Quốc gia (6 di tích) |
Tháp Thạt Luổng, chùa Xỉ Xạ Kệt, Hỏ Phạ Kẹo, chùa In Peng, chùa Ông Tự, chùa Xỉ Mường |
| Di tích đang lập hồ sơ xếp hạng |
Khải Hoàn môn (Pa Tu Xay), Thạt Đặm, Công viên Phật Xiêng Khuan, Thạt Thin Soi, Thành cổ Viêng Chăn, chùa Phạ Bạt Phôn Săn |
- Phân loại theo loại hình: Danh sách kiểm kê của Cục Di sản phân chia di tích lịch sử - văn hóa vật thể ở Viêng Chăn thành 8 loại, trong đó bước đầu xác định: nhà kiểu Pháp (2 di tích), ngôi tháp (7 di tích), hang (2 di tích), địa điểm tôn giáo (21 di tích), vùng cổ (8 di tích).
- Khảo tả các tiểu nhóm di tích:
- Di tích lịch sử tôn giáo (tiểu mục 2.2): Khảo tả chi tiết kiến trúc, niên đại và hiện trạng của tháp Thạt Luổng (biểu tượng quốc gia), Hỏ Phạ Kẹo (ngôi chùa hoàng gia lưu giữ cổ vật), chùa Xỉ Xạ Kệt (ngôi chùa cổ giữ được nguyên vẹn kiến trúc sau chiến tranh năm 1828), chùa Xỉ Mường (trung tâm sinh hoạt tâm linh gắn với cột mốc thành phố), chùa In Peng và chùa Ông Tự.
- Di tích lịch sử khảo cổ học (tiểu mục 2.3): Khảo sát các di chỉ lò gốm Sisattanak, các dấu tích tường thành cổ và các điểm khai quật đồ gốm thương mại ven sông Mê Kông.
- Di tích lịch sử thời kỳ Pháp thuộc giai đoạn 1893-1954 (tiểu mục 2.4): Khảo tả các công trình trụ sở hành chính, dinh thự, nhà ở mang phong cách kiến trúc thuộc địa Pháp kết hợp vật liệu bản địa.
- Di tích lịch sử thời kỳ hiện đại từ năm 1954 đến nay (tiểu mục 2.5): Khảo sát các công trình tưởng niệm chiến tranh, Khải Hoàn môn Pa Tu Xay, Khu di tích lưu niệm Chủ tịch Xu Pha Nụ Vông và các địa điểm gắn liền với sự kiện thành lập nước CHDCND Lào năm 1975.
Chương 3: Đặc điểm và giá trị của di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn
Chương 3 đi sâu phân tích hai nội dung trọng tâm:
- Đặc điểm của di sản văn hóa vật thể (tiểu mục 3.1): Di sản Viêng Chăn mang dấu ấn đậm nét của Phật giáo Theravada (Phật giáo Nam truyền); có tính kế thừa và tiếp biến văn hóa khu vực (giao lưu với kiến trúc Môn, Khơme, Thái Lan, Miến Điện); mật độ phân bố di tích tập trung dày đặc tại khu vực trung tâm thành phố bên bờ sông Mê Kông. Tác giả sử dụng Bảng 3.1 thống kê số lượng chùa tại 9 quận, huyện để minh chứng cho đặc điểm phân bố này:
| TT |
Quận / Huyện |
Đặc điểm phân bố di tích chùa tháp |
| 1 |
Quận Chăn Thạ Bu Ly |
Khu vực nội đô lịch sử, mật độ chùa cổ dày đặc |
| 2 |
Quận Xí Xạt Tạ Nác |
Địa bàn có nhiều ngôi chùa lịch sử và di chỉ khảo cổ |
| 3 |
Quận Xay Xệt Thả |
Khu vực tọa lạc tháp Thạt Luổng và nhiều cơ sở Phật giáo |
| 4 |
Quận Xỉ Khô Đạt Boong |
Vùng đệm ven đô có nhiều chùa làng truyền thống |
| 5 |
Huyện Hạt Xay Fai |
Địa bàn nông nghiệp ven sông Mê Kông |
| 6 |
Huyện May Pạc Ngừm |
Khu vực danh thắng tự nhiên và chùa vùng ven |
| 7 |
Huyện Na Xay Thoong |
Huyện ngoại thành, hệ thống chùa gắn liền bản làng |
| 8 |
Huyện Xay Tha Ny |
Huyện ngoại thành có khu danh lam thắng cảnh Thạ Ngon |
| 9 |
Huyện Sang Thong |
Vùng bán sơn địa, hệ thống di tích mang tính bản địa |
- Giá trị của di sản văn hóa vật thể (tiểu mục 3.2):
- Giá trị lịch sử - văn hóa: Là minh chứng vật chất cho tiến trình 450 năm định đô và phát triển của thủ đô Viêng Chăn, khẳng định chủ quyền và bản sắc của vương quốc Lạn Xạng trước đây cũng như nước CHDCND Lào hiện nay.
- Giá trị kiến trúc - nghệ thuật: Thể hiện qua nghệ thuật xây dựng tháp Stupa dạng quả bầu thuôn nhọn đặc trưng của Thạt Luổng; kiến trúc Phật điện (Sim) với mái uốn cong nhiều tầng; nghệ thuật điêu khắc tượng Phật bằng đồng, gỗ, đất nung; nghệ thuật chạm khắc hoa văn thực vật trên trần và cánh cửa chùa.
- Giá trị tâm linh và cố kết cộng đồng: Chùa chiền là trung tâm sinh hoạt văn hóa của bản làng người Lào, nơi diễn ra các nghi lễ tôn giáo, buộc chỉ cổ tay, lễ hội Thạt Luổng hàng năm.
- Giá trị kinh tế - du lịch: Luận án dẫn chứng dữ liệu thực nghiệm qua Bảng 3.2 (Địa điểm khách du lịch quan tâm tại thủ đô Viêng Chăn) và Bảng 3.3 (Thống kê khách thăm quan ở thủ đô Viêng Chăn), chứng minh các di tích Thạt Luổng, chùa Xỉ Xạ Kệt, Hỏ Phạ Kẹo, Pa Tu Xay là những điểm đến thu hút lượng khách lớn nhất, tạo nguồn thu nhập cho cộng đồng và dịch vụ đô thị.
Chương 4: Bàn luận về di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn hiện nay
Chương 4 tập trung giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu thứ ba của đề tài:
- Các yếu tố tác động (tiểu mục 4.1):
- Yếu tố tự nhiên: Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, lượng mưa lớn và độ ẩm cao gây ẩm mốc, bào mòn vật liệu gỗ, vữa gạch cổ; lũ lụt và sạt lở bờ sông Mê Kông ảnh hưởng đến các di tích ven sông.
- Yếu tố con người và kinh tế - xã hội: Áp lực từ tốc độ đô thị hóa nhanh chóng; việc mở rộng đường phố, xây dựng công trình cao tầng phá vỡ không gian cảnh quan truyền thống; tình trạng thương mại hóa du lịch; hoạt động trùng tu tự phát của người dân tại một số ngôi chùa không tuân thủ quy chuẩn bảo tồn.
- Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn, phát huy (tiểu mục 4.2):
- Xung đột giữa nhu cầu phát triển kinh tế, hiện đại hóa đô thị với yêu cầu bảo tồn tính nguyên gốc của di tích.
- Cơ sở pháp lý và việc thực thi Luật Di sản Quốc gia năm 2005 (sửa đổi 2013) ở cấp cơ sở còn nhiều bất cập, sự phối hợp giữa Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch với chính quyền thủ đô Viêng Chăn chưa đồng bộ.
- Thiếu hụt nguồn kinh phí bảo tồn từ ngân sách nhà nước, công tác xã hội hóa chưa có cơ chế điều tiết hợp lý.
- Đội ngũ cán bộ chuyên môn về trùng tu, bảo tồn di sản văn hóa vật thể thiếu hụt nghiêm trọng về số lượng và trình độ kỹ thuật.
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị (tiểu mục 4.3):
- Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách và pháp luật: Tăng cường hiệu lực thực thi Luật Di sản Quốc gia; xây dựng quy chế phối hợp cụ thể giữa Cục Di sản và Sở Thông tin, Văn hóa và Du lịch thủ đô Viêng Chăn; ban hành quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt đối với hoạt động trùng tu di tích tôn giáo.
- Nhóm giải pháp quy hoạch và bảo tồn thích ứng: Tích hợp quy hoạch bảo tồn di sản vào quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Viêng Chăn; phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt khu vực nội đô lịch sử; áp dụng phương thức bảo tồn thích ứng (adaptive reuse) đối với các công trình kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc.
- Nhóm giải pháp tài chính và xã hội hóa: Trích một phần tỷ lệ nguồn thu từ du lịch (tận dụng định hướng 20% vốn đầu tư ngành du lịch) để tái đầu tư trực tiếp cho tu bổ di tích; hoàn thiện cơ chế quản lý tiền công đức và tài trợ quốc tế đảm bảo minh bạch.
- Nhóm giải pháp nhân lực và cộng đồng: Mở các khóa đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật bảo tồn vật liệu cổ; nâng cao nhận thức của tăng ni, phật tử và cộng đồng dân cư các bản mường trong việc giám sát và bảo vệ di tích tại chỗ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Xây dựng cách tiếp cận và khung phương pháp luận văn hóa học trong việc nghiên cứu di sản văn hóa vật thể tại một đô thị thủ đô đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế và đô thị hóa nhanh.
- Thiết lập hệ thống tiêu chí khoa học nhằm nhận diện và đánh giá các giá trị tiềm năng của di sản văn hóa vật thể trong cấu trúc không gian đô thị thủ đô Viêng Chăn.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu mang tính hệ thống, không chỉ giới hạn ở các di tích lịch sử tiêu biểu riêng lẻ mà bao quát toàn bộ quỹ di sản văn hóa vật thể của thủ đô Viêng Chăn.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa bảo lưu truyền thống và tiếp nhận hiện đại trong việc định hình bản sắc văn hóa dân tộc Lào qua hệ thống di sản văn hóa vật thể.
- Tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa nguồn số liệu thực địa, góp phần thiết lập cơ sở dữ liệu khoa học cho quỹ di sản văn hóa vật thể tại thủ đô Viêng Chăn.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực tế giúp các cơ quan quản lý văn hóa của Lào (Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch, chính quyền thủ đô Viêng Chăn) hoạch định chính sách bảo tồn, hoàn thiện khung pháp lý và áp dụng kinh nghiệm cho các đô thị có điều kiện tương đồng như Luổng Phạ Bàng hay Xạ Vặn Nạ Kệt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Nguồn tài liệu thành văn và thư tịch cổ lưu trữ về di sản văn hóa vật thể tại Lào nhìn chung còn khan hiếm do hậu quả tàn phá của nhiều cuộc chiến tranh trong lịch sử.
- Luận án chủ yếu tập trung khảo sát các di tích tiêu biểu có niên đại trên 50 năm theo danh mục của Cục Di sản và tập trung phần lớn ở khu vực nội thành, chưa thể kiểm kê toàn diện mọi phế tích và di sản quy mô nhỏ ở các địa bàn nông thôn xa trung tâm thủ đô.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi điều tra, kiểm kê chi tiết các công trình di sản văn hóa vật thể quy mô nhỏ tại các bản làng xa trung tâm thuộc các huyện ngoại thành như May Pạc Ngừm, Sang Thong.
- Đi sâu nghiên cứu ứng dụng công nghệ số hóa 3D trong việc lập hồ sơ di sản và xây dựng mô hình hợp tác công - tư trong quản trị, phát huy di sản gắn với du lịch bền vững tại thủ đô Viêng Chăn.
Giá trị tham khảo
Nhóm đối tượng thụ hưởng
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Lịch sử nghệ thuật, Đông Nam Á học, Quản lý văn hóa và Quy hoạch kiến trúc đô thị có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo chuyên khảo về văn hóa Lào.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Dùng làm nguồn tư liệu đối chiếu về phương pháp tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu di sản văn hóa đô thị tại các nước Đông Nam Á.
- Nhà quản lý văn hóa và người làm chính sách: Cán bộ công tác tại Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào, Sở Thông tin, Văn hóa và Du lịch thủ đô Viêng Chăn có thể tham khảo trực tiếp các đề xuất giải pháp, cơ chế phân cấp quản lý và tiêu chí bảo tồn thích ứng.
Nội dung giá trị đáng tham khảo
- Khung lý thuyết về tiêu chí đánh giá giá trị di sản và mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị trong Chương 1.
- Danh mục thống kê hiện trạng 73 di tích, dữ liệu khảo tả 6 di tích cấp Quốc gia và các công trình thời kỳ Pháp thuộc trong Chương 2.
- Phương pháp phân tích các yếu tố tác động và hệ thống giải pháp gắn bảo tồn di sản với quy hoạch đô thị và nguồn thu du lịch trong Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
Vua Xay Nhạ Xệt Thả Thị Lát dời đô về Viêng Chăn vào năm nào và đã cho xây dựng những công trình di sản tiêu biểu nào?
Vua Xay Nhạ Xệt Thả Thị Lát quyết định dời đô từ Luổng Phạ Bàng về Viêng Chăn vào năm 1560. Trong thời kỳ này, nhà vua đã cho xây dựng lại tháp Thạt Luổng trở thành trung tâm của kinh đô và cho tạo dựng khoảng 120 ngôi chùa ở hai bên bờ sông Mê Kông, trong đó có các ngôi chùa tiêu biểu như chùa Xỉ Mường, chùa Ông Tự, chùa In Peng, chùa Phô Thi Xạ Lát.
Hiện nay thủ đô Viêng Chăn có bao nhiêu di tích được xếp hạng cấp Quốc gia và gồm những công trình nào?
Theo số liệu của Cục Di sản thuộc Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào được dẫn trong luận án, thủ đô Viêng Chăn hiện có 6 di tích được Chính phủ và Nhà nước Lào công nhận, xếp hạng di tích cấp Quốc gia, bao gồm: tháp Thạt Luổng, chùa Xỉ Xạ Kệt, Hỏ Phạ Kẹo, chùa In Peng, chùa Ông Tự và chùa Xỉ Mường.
Văn bản quy phạm pháp luật nào của Lào quy định về phân loại và quản lý di sản được luận án sử dụng làm căn cứ pháp lý chính?
Căn cứ pháp lý chủ yếu được luận án sử dụng gồm: Pháp lệnh về việc bảo vệ Di sản quốc gia về văn hóa, lịch sử và thiên nhiên ban hành ngày 20/6/1997 của Chủ tịch nước CHDCND Lào; và Luật Di sản Quốc gia năm 2005 được Quốc hội nước CHDCND Lào sửa đổi, bổ sung ngày 24/12/2013.
Theo số liệu kiểm kê của Cục Di sản, thủ đô Viêng Chăn có bao nhiêu di tích có niên đại trên 50 năm và được phân loại bước đầu như thế nào?
Theo danh sách thống kê của Cục Di sản, thủ đô Viêng Chăn có 73 di tích có niên đại hơn 50 năm. Số lượng và loại hình di tích lịch sử - văn hóa vật thể được phân chia thành 8 nhóm, trong đó văn bản nêu cụ thể: nhà kiểu Pháp (2 di tích), ngôi tháp (7 di tích), hang (2 di tích), địa điểm tôn giáo (21 di tích), vùng cổ (8 di tích), bên cạnh các di chỉ khảo cổ và công trình lịch sử thời kỳ hiện đại.
Bốn tiêu chí xác định giá trị của di sản văn hóa vật thể được luận án thiết lập là gì?
Luận án xác định một sản phẩm vật chất trở thành di sản văn hóa vật thể khi đáp ứng ít nhất một trong bốn tiêu chí giá trị: giá trị lịch sử tiêu biểu (gắn với sự kiện, giai đoạn lịch sử trọng đại hoặc danh nhân kiệt xuất); giá trị khoa học (phản ánh tri thức, sự hiểu biết và sáng tạo kỹ thuật của con người); giá trị biểu tượng văn hóa (làm phương tiện giao lưu, nhận diện bản sắc cộng đồng); và giá trị thẩm mỹ, đạo đức (hướng tới các chuẩn mực chân, thiện, mỹ).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay" của tác giả Somkiethtisack Kingsada là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về di sản văn hóa vật thể tại thủ đô Viêng Chăn dưới góc nhìn chuyên ngành Văn hóa học. Luận án đã làm rõ hiện trạng phân bố của 73 di tích trên 50 năm tuổi, đi sâu khảo tả 6 di tích cấp Quốc gia cùng các công trình khảo cổ, kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc và hiện đại. Trên cơ sở phân tích đặc điểm, giá trị và các xung đột nảy sinh giữa bảo tồn với đô thị hóa trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp chính sách, quy hoạch và kinh tế nhằm bảo tồn thích ứng và phát huy giá trị di sản trong chiến lược phát triển bền vững của thủ đô Viêng Chăn.