Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích cấp quốc gia, tổng quan về di tích cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu. Chương 2: Thực trạng quản lý di tích cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý trong giai đoạn hiện nay 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH CẤP QUỐC GIA VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU 1. Cơ sở lý luận về quản lý di tích cấp quốc gia 1. Một số khái niệm 1.
Di tích lịch sử - văn hóa Theo "Từ điển tiếng Việt" của tác giả Hoàng Phê thì “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử” [41] Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì khái niệm “Di tích là những dấu tích, vết tích vật chất có giá trị trong quá khứ trải qua sự biến thiên của lịch sử, sự dầm mưa dãi nắng, qua thời gian còn tồn tại cho đến ngày nay” [12]. Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa 2009 quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Trong đó, Danh lam thắng cảnh được hiểu “là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ khoa học”. Các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảng trường, khu phố… gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các địa điểm gắn với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng [[43], tr.
Để được công nhận di tích lịch sử - văn hóa cần phải đảm bảo các tiêu chí được quy định tại điều 28, chương IV, Luật Di sản Văn hóa: 9 - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. - Công trình xây dựng địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, của danh nhân đất nước. - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của thời kỳ cách mạng kháng chiến. - Quần thể các công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
Phân loại di tích được quy định tại Điều 11 Nghị định 98/2010/NĐ- CP hướng dẫn Luật di sản văn hóa và Luật di sản văn hóa sửa đổi như sau: - Loại hình di tích lịch sử. - Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật. - Loại hình di tích khảo cổ học. - Loại hình di tích danh lam thắng cảnh.
Loại hình di tích lịch sử bao gồm: những công trình địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; gắn với lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Loại hình di tích khảo cổ học là: cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để lại có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học. 10 Loại hình di tích danh lam thắng cảnh: là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học.
Di tích cấp quốc gia Ở Việt Nam hiện nay, theo các quy định hiện hành, di tích được xếp hạng theo 3 cấp: Di tích quốc gia đặc biệt; Di tích quốc gia; Di tích cấp tỉnh. Khoản 2 Điều 29 Luật Di sản văn hóa 2001 được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật di sản văn hóa sửa đổi 2009 định nghĩa: “Di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh quốc gia (di tích quốc gia) là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: - Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; - Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; - Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ; - Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù” 1. Quản lý Từ điển tiếng Việt đưa ra khái niệm “quản lý” như sau: “Quản lý được hiểu là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan, việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì” [[41], tr. 11 Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính Quốc gia đưa ra định nghĩa: “Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi, hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và theo ý chí của nhà quản lý” [[21], tr.
Như vậy, các khái niệm về quản lý chủ yếu tập trung làm rõ hai vấn đề cơ bản sau: - Thứ nhất, quản lý là một hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của đặt ra. - Thứ hai, quản lý là phương thức đảm bảo cho những hoạt động diễn ra được hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua những người khác. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người, một tổ chức. Đối tượng quản lý cũng có thể là một cá nhân hay một nhóm người, cộng đồng người hay một tổ chức nhất định.
Từ các phân tích trên, tác giả luận văn đưa ra khái niệm quản lý như sau: “Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu nhất định thông qua hệ thống luật pháp và các quy định có tính pháp lý”. Quản lý di tích lịch sử - văn hóa Quản lý văn hoá là một trong những lĩnh vực của quản lý và thường được hiểu là: “Công việc của nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hoá, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, của cả nước nói chung. Ngoài ra quản lý văn hoá còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối 12 với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hoá) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn…” [[16], tr. Từ định nghĩa trên về quản lý văn hóa có thể đưa ra định nghĩa quản lý di tích lịch sử văn hóa như sau: “Quản lý di tích lịch sử - văn hoá là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực.
Việc quản lý di tích được thực hiện bởi các chủ thể quản lý (cơ quan quản lý, cộng đồng có di tích…) tác động bằng nhiều hình thức khác nhau đến đối tượng quản lý (các di tích) nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá trị của di tích phục vụ sự phát triển của xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng.” Di tích quốc gia là những di tích có giá trị độc đáo trên bình diện quốc gia dân tộc, không bị bó hẹp ở khuôn khổ địa phương, vì thể cần phải có cách ứng xử đặc biệt đối với các di tích đó. Từ khái niệm quản lý di tích lịch sử văn hóa, có thể hiểu “Quản lý di tích quốc gia là sự định hướng, tổ chức điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích quốc gia của chủ thể quản lý bằng các công cụ quản lý nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích”. Nội dung quản lý di tích cấp quốc quốc gia 1. Nội dung quản lý di tích cấp quốc gia theo quy định của pháp luật Di tích quốc gia là một là một bộ phận của của di tích nói riêng và di sản văn hóa nói chung, do vậy nội dung quản lý di tích quốc gia tuân thủ theo các quy định của Nhà nước về quản lý di sản văn hóa.
Điều 54 của Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001, sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009 đã xác định 8 nội dung của quản lý di sản văn hóa, bao gồm: 13 “1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; 2. Ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH; 3. Tổ chức chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích LS - VH tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH; 4.
Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH; 5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; 6. Tổ chức chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị; 7.