Chương I Luật Di sản Văn hóa Việt Nam được sửa đổi, bổ sung năm 2009, như sau: + Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. + Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Sự phân định này thực ra chỉ mang tính tương đối, nhằm để nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản, bởi trong thực tế yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản. Khi đó, di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, là biểu hiện tinh thần của di sản văn hóa vật thể; còn cái hiện hữu, cái làm nên di sản văn hóa vật thể thì tồn tại như là biểu hiện vật chất của di sản văn hóa phi vật thể ấy.
Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã sáng tạo và để lại nhiều di tích có giá trị trên mảnh đất Vĩnh Long. Tuy nhiên, nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng và có nguy cơ mai một vì nhiều nguyên nhân như: sự tàn phá của chiến tranh, thiên tai, nhận thức chưa đầy đủ về giá trị của di tích,…vì vậy, vấn đề cấp thiết đang đặt ra là phải hoạch định chiến lược, nhanh chóng xây dựng các chính sách và giải pháp để bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của di tích ở Việt Nam nói chung, Vĩnh Long nói riêng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương, trong đó có hoạt động của ngành du lịch. 18 * Khái niệm Di tích văn hoá Di tích là một bộ phận của di sản, là thành tố quan trọng của môi trường xã hội, là thông điệp của quá khứ gửi lại cho các thế hệ mai sau, nó có năng lực trường tồn cùng thời gian. Có rất nhiều tài liệu đưa ra khái niệm di tích: Đại hội Quốc tế lần thứ hai các kiến trúc sư, các kỹ thuật gia và chuyên gia về các di tích lịch sử, họp ở Venice từ ngày 25 – 31/5/1964 đã thông qua Hiến chương Venice.
Theo đó di tích “Không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một sự tiến hóa có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử”[12, tr. Ngoài ra, còn có rất nhiều từ điển song ngữ, chẳng hạn Từ điển Việt – Anh di tích được dịch là vetiges hay remains, có nghĩa là những cái còn lại sau khi các phần khác đã bị loại bỏ hay các tòa nhà cổ còn lại khi những tòa nhà khác đã bị phá hủy [54, tr. Trong Từ điển Việt – Anh thì di tích hiểu là những di vật cổ, lăng tẩm, lăng mộ, đài tượng niệm cổ có giá trị lịch sử - văn hóa “Relics of the past, old re-lics anh monuments” [39, tr. Như vậy, là không gian vật chất cụ thể, khách quan, ngoài ý muốn của con người đương đại, không do chúng ta quy định mà do trong quá trình hoạt động hình thành nên di tích.
Di tích hình thành từ sự sáng tạo của tập thể hoặc cá nhân trong lịch sử để lại, tồn tại bằng những không gian hiện trạng muôn hình, muôn vẻ, với nhiều bộ phận cấu thành như anh hùng dân tộc, cảnh quan thiên nhiên đẹp, công trình kiến trúc, nghệ thuật,…Tùy theo mỗi loại di tích mà những thuộc tính trên đây tạo thành các di tích. Luật Di sản Văn hóa Việt Nam được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Điều 29, chương IV quy định: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là di tích) được xếp hạng (chia thành 3 loại) như sau : - Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương; - Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia; 19 - Di tích quốc gia đặc biệt là những di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia; Luật Di sản Văn hóa Việt Nam được sửa đổi, bổ sung năm 2009 [5, tr. 47], có những giá trị tiêu biểu mà di tích chứa đựng thì di tích được chia thành 4 loại: - Loại hình di tích lịch sử bao gồm: những công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc: di tích Phủ Chủ tịch, di tích Nhà tù Côn đảo, di tích Phạm Hùng, di tích Văn Thánh Miếu, di tích Lăng Ông Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn,… - Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam: di tích Đình làng, di tích Chùa tháp, di tích Văn miếu, di tích đạo quán, di tích đền, nghè, miếu, phủ, di tích thành lũy, di tích lăng tẩm, di tích cầu, di tích kiến trúc dân gian, di tích kiến trúc Chăm Pa, di tích kiến trúc Khmer,… - Loại hình di tích khảo cổ học là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ: di tích Gò Tháp huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp; di tích Óc Eo Thành Mới huyện Vũng Liêm,. - Loại hình di tích danh lam thắng cảnh là: cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mao, địa lý, địa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù: cảnh quan thiên nhiên vịnh Hạ Long, động Phong Nha,.
* Khái niệm Di tích lịch sử - văn hoá Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. 20 Theo Luật Di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung năm 2009, di tích lịch sử - văn hóa được qui định: “Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [16, tr. Trong đó, Di vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quí hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học. Di tích lịch sử - văn hóa là sản phẩm của các thế hệ người trải qua thời gian còn tồn tại đến nay, nó là kết tinh của một quá trình sáng tạo của con người.
Vì vậy, nó là chứng cứ vật chất xác thực tiêu biểu về quá trình phát triển của lịch sử của mỗi cộng đồng dân tộc và nhân loại; là thông điệp của quá khứ đến hiện tại và tương lai.2 Quản lý di tích lịch sử - văn hoá * Quản lý Sách quản lý văn hóa Việt Nam, xuất phát từ gốc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Đặc biệt là từ thế kỷ XXI quan niệm về quản lý càng phong phú. Có rất nhiều trường phái đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: - Taylor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm"[11, tr. - Fayol: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm năm yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”[13, tr. - Hard koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"[18, tr. 21 Nhìn chung, quản lý là một hoạt động nhằm bảo đảm sự vận hành của một hệ thống, một tổ chức một cách liên tục, đúng chức năng. Lược sử quản lý văn hóa ở Việt Nam đưa ra lý giải khác, theo quan niệm thông thường quản lý là các hoạt động có ý thức (của người lãnh đạo, người đứng đầu, người chịu trách nhiệm,…), nhằm định hướng, lập kế hoạch, đầu tư tổ chức thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh bổ sung, sơ kết, tổng kết, nghiệm thu kết quả một quá trình lao động của một tập thể, một cộng đồng [26, tr.
Như vậy, quản lý di tích lịch sử - văn hóa thuộc về lĩnh vực quản lý chuyên ngành di tích. * Quản lý di sản văn hóa không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị hiện tồn, điều quan trọng hơn chính vai trò của quản lý làm "sống lại" các giá trị phi vật thể thông qua các giá trị vật thể góp phần giáo dục truyền thống, phát huy giá trị làm giàu cho địa phương và dân tộc. * Quản lý di tích lịch sử - văn hoá Quản lý di tích lịch sử - văn hóa là đối tượng đặc biệt, rất quan trọng cần được bảo quản gìn giữ và phát huy “Quản lý di tích lịch sử - văn hóa có thể coi là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý (di tích lịch sử - văn hóa), giúp di tích lịch sử - văn hóa tồn tại bền vững, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng và dân tộc nói chung”.