Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ Ở THÀNH PHỐ VĨNH LONG 1. Một số khái niệm Di tích LS-VH: Di tích LS-VH là dấu tích, vết tích còn lại. Mỗi nước cũng đưa ra những khái niệm về di tích LS-VH của dân tộc mình. Điều 1, Hiến chương Vernice quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay một biến cố về lịch sử” [33, tr.
Theo từ điển Bách Khoa thì khái niệm quy định về Di tích LS-VH là: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học… Di tích là di sản văn hóa – lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [49, tr. Luật Di sản Văn hóa do Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung Luật Di sản Văn hóa 2009 quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [50, tr. Theo Luật Di sản Văn hóa: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học" [39, tr. Ở đây, có thể hiểu rộng ra các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảng trường, khu phố gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các địa điểm gắn với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng.
12 Như vậy có nhiều quan điểm khác nhau về di tích lịch sử - văn hóa, nhưng tôi chọn quan niệm “Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [46, tr. Vì các di tích được hình thành từ hoạt động lao động sáng tạo của con người trong quá trình dựng nước và giữ nước, tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể vừa phong phú vừa đa dạng về các loại hình. Trải qua thời gian những sản phẩm đó được tồn tại đến ngày nay, có những sản phẩm mang những giá trị có tính chất tiêu biểu, đặc trưng về lịch sử văn hóa, khoa học nên được công nhận là di tích. Quản lý: Trong Đại từ điển tiếng Việt, “quản lý" được hiểu là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì [43, tr.
Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đưa ra khái niệm cụ thể hơn: “là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra" [22, tr. Trong tác phẩm “Những nguyên lý quản lý theo khoa học – Principles of scientific management” của học tác giả Taylor được trích dẫn trong Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm"[42, tr. Theo nghiên cứu Fayol: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm năm yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [38, tr.
Theo nghiên cứu của Hard koont được trích dẫn trong “Quản lý văn hóa Việt Nam”: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định" [51, tr. 13 Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân đưa ra lý giải khác, theo quan niệm thông thường quản lý là các hoạt động có ý thức (của người lãnh đạo, người đứng đầu, người chịu trách nhiệm,…), nhằm định hướng, lập kế hoạch, đầu tư tổ chức thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh bổ sung, sơ kết, tổng kết, nghiệm thu kết quả một quá trình lao động của một tập thể, một cộng đồng [34, tr. Quản lý di tích lịch sử-văn hóa: Quản lý văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của quản lý, thường được hiểu là: Công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung. Ngoài ra, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn.
Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc, vì vậy có thể hiểu: Quản lý di tích lịch sử văn hóa chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực. Việc quản lý di tích được thực hiện bởi các chủ thể quản lý (cơ quan quản lý, cộng đồng có di tích.) tác động bằng nhiều cách thức khác nhau đến đối tượng quản lý (các di tích) nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá trị của di tích phục vụ sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng. Quan điểm về quản lý di tích Quản lý về văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của khoa học quản lý, đây là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc [18, tr. Quản lý nhà nước về văn hóa 14 mang tính đặc thù vì trước hết, hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống con người.
Thứ nhất, hoạt động văn hóa là hoạt động đó đòi hỏi phải có những không gian dành riêng, giúp cho sức tưởng tượng của chủ thể có khả năng sáng tạo theo khả năng của mình. Thứ hai, hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây “hiệu ứng" tốt hoặc xấu trong xã hội. Thứ ba, hoạt động văn hóa là hoạt động kinh tế, một nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội [37, tr. Văn hóa là lĩnh vực rộng, trong đó DSVH là một bộ phận cấu thành quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
“Di sản Văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [19, tr. Thực tế ở nước ta cho thấy, quản lý DSVH là quá trình xuyên suốt trong đời sống xã hội ở tất các các cấp độ, các địa phương. Công tác này giúp cho đời sống văn hóa của xã hội có được nền tảng ổn định bền vững để tồn tại và phát triển. DSVH là tài sản của quá khứ để lại, lưu giữ dấu ấn thời gian nhưng cũng trở thành đối tượng bị thời gian tàn phá cho nên chúng ta cần phải có những biện pháp bảo tồn thích hợp để có thể gìn giữ lâu dài.
Đồng thời phải làm cho các di sản đến từ quá khứ phải trở thành một hợp phần quan trọng của đời sống xã hội hiện đại [25, tr. Tất cả những hoạt động đó được coi là những công việc thuộc về quản lý DSVH. Tuy nhiên, công tác quản lý DSVH không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn những giá trị đặc sắc mà còn phải tiến hành những động thái tích cực, phù hợp để bổ sung, nâng cao những giá trị đó phù hợp với yêu cầu của xã hội đương đại. Quản lý DSVH về bản chất là sử dụng có hiệu quả các công cụ quản lý để tác động đến đối tượng bị quản lý để đạt được mục tiêu đặt ra là bảo vệ lâu dài các yếu tố gốc cấu thành giá trị DSVH và phát huy giá trị phục vụ cho sự phát triển 15 kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp cư dân trong xã hội [30, tr.
Bàn về quản lý DSVH nhưng về cơ bản là quản lý các mặt hoạt động của con người có tác động theo cả hai chiều thuận và nghịch tới DSVH; Không thể bỏ qua các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, tu bổ, tôn tạo, khai thác, sử dụng DSVH và phát triển kinh tế có liên quan đến di sản [36, tr. Đối tượng của quản lý ở đây không chỉ là di sản mà còn bao gồm tất cả các hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn DSVH và cả những con người thực hiện các hoạt động đó. Vì vậy trong quản lý DSVH người ta luôn quan tâm đến vai trò và trách nhiệm xã hội của toàn thể cộng đồng. Hiệu quả của công tác quản lý phụ thuộc trước hết vào các loại công cụ quản lý do các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và những người hoạch định chính sách đặt ra và sử dụng trong hoạt động quản lý di sản.
Có thể hiểu, công cụ quản lý là những cơ chế, chính sách, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước đã được phát triển, cụ thể thể hóa vào Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật, các chiến lược phát triển ngắn hạn và dài hạn, các quy hoạch, kế hoạch và dự án tu bổ, tôn tạo tác động trực tiếp tới di sản [17, tr.