chương 1 Luật di sản văn hóa năm 2009 định nghĩa Di sản văn hóa vật thể là “Sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm DTLSVH, danh lam thắng cảnh, di vật cổ vật, bảo vật Quốc gia” [36, tr. Theo định nghĩa thì DTLSVH thuộc di sản văn hóa vật thể. Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa: Theo hiến chương Quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ (1964), Đại hội Quốc tế lần thứ hai các kiến trúc và kỹ thuật gia về di tích lịch sử tại Venise năm 1964, đã coi các di tích lịch sử của các thế hệ con người thấm đượm một thông điệp từ thời quá khứ, đến ngày nay hãy còn như là những nhân chứng sống của những truyền thống lâu đời cổ xưa. Nhân loại ngày càng ý thức rõ ràng tính thống nhất của các giá trị con người và coi các di tích cổ như là một di sản chung.
Khái 10 z niệm di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng. Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả những công trình khiêm tốn hơn vốn đã, cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa. Theo Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng DTLSVH và danh lam thắng cảnh ngày 4/4/1984, DTLSVH là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu, và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội. Tại hội nghị quốc tế các khoa học lịch sử lần thứ XVII ở Madrit (Tây Ban Nha) từ ngày 26/8 đến 2/9/1990 có báo cáo về vấn đề các nhà sử học và việc gìn giữ các di sản văn hóa nhân loại.
Hội nghị đã khẳng định “DTLSVH là những di sản văn hóa quý hiếm của nhân loại, cần được bảo vệ và sử dụng đúng đắn. Di tích lịch sử đã và đang trải qua những hiểm họa đó là thời gian ngày càng lùi xa, thiên nhiên khắc nghiệt và cả sự vô ý thức của con người” [34, tr. 5] Theo điều 4 Luật di sản văn hóa 2009, DTLSVH là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học. Trong quá trình tồn tại của đời sống, con người đã sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa đặc trưng cho thời đại mình hoặc người đời sau tạo nên nhằm tưởng niệm những gì đã qua.
Những sản phẩm còn lưu lại đến ngày nay gọi là DTLSVH. “DTLSVH là một di sản văn hóa nói lên trình độ văn minh của các nền văn minh nhân loại” [35, tr. Trải qua quá trình lao động và sáng tạo con người đã xây dựng rất nhiều công trình. Vậy những công trình nào được coi là DTLSVH? Theo điều 28 Luật di sản văn hóa năm 2009, DTLSVH phải có một trong các tiêu chí sau: - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của Quốc gia hoặc địa phương.
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử. 11 z - Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu. - Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật. Khái niệm bảo tồn, phát huy giá trị di tích Bảo tồn di tích là những hoạt động nhằm bảo vệ, bảo quản, tu bổ, phục hồi các yếu tố gốc của di tích.
Bảo quản DTLSVH là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của DTLSVH. Tu bổ DTLSVH là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo DTLSVH. Tôn tạo là quá trình thực hiện những thiết kế bổ sung vào di tích hiện có và xây dựng mới các công trình, bổ sung phương tiện kỹ thuật nhằm mục đích tôn vinh thêm giá trị của di tích. Phục hồi DTLSVH là hoạt động nhằm phục dựng lại DTLSVH đã bị hủy hoại trên cơ sở các tư liệu khoa học về DTLSVH [36, tr.
Yếu tố gốc cấu thành di tích là yếu tố có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, thể hiện đặc trưng của DTLSVH, danh lam, thắng cảnh [36, tr. Như vậy, hoạt động bảo tồn di tích không tạo ra di tích mà chỉ có thể hoạt động bảo tồn sao cho hợp lý, đúng với đối tượng khách quan. Phát huy giá trị DTLSVH là những hoạt động nhằm giới thiệu các giá trị vật chất và tinh thần chứa đựng trong di tích, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương. Mục đích của việc bảo tồn, tu bổ, phục hồi, phát huy giá trị các DTLSVH là giữ gìn, bảo quản, bảo vệ chúng về mặt pháp lý và khoa học nhằm duy trì tính nguyên gốc và sự toàn vẹn của di tích, giữ lại các DTLSVH cho thế hệ hôm nay và mai sau, sử dụng chúng vào mục đích nghiên cứu khoa học, giáo dục tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ và truyền thống góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước.
Bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH luôn gắn kết chặt chẽ, biện chứng. Đó là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn di sản văn hóa. Bảo tồn, tôn tạo DTLSVH tốt thì mới phát huy được giá trị của 12 z DTLSVH ấy. Phát huy cũng là một cách để bảo tồn DTLSVH tốt nhất, lưu giữ những giá trị đó trong ý thức cộng đồng xã hội.
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống lịch sử - văn hóa Bắc Ninh 1.Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Hồng, nằm trong phạm vi từ 20o 58’- 21o 16’B và 1050 54’-1060 19’ Đ. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hải Dương, Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, Phía Tây giáp thủ đô Hà Nội. Diện tích tự nhiên là 822,71km2 (diện tích tự nhiên nhỏ nhất trong 64 tỉnh thành phố trên cả nước). Địa hình Bắc Ninh khá bằng phẳng, hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình.
Đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3-7m so với mực nước biển; một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ. Địa hình trung du đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác ở thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ. Địa hình đồng bằng đã giúp hình thành nên những làng quê trù phú, thanh bình, đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ với những nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt. Địa hình này ở Bắc Ninh là nơi tập trung với mật độ dày đặc các DTLSVH, các làng nghề truyền thống và các loại hình văn hóa dân gian đặc sắc.
Địa hình đồi núi ở Bắc Ninh mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ và không tạo nên được những cảnh quan đặc sắc nhưng cũng làm giảm sự đơn điệu của địa hình đồng bằng. Bên cạnh đó, một số khu vực có địa hình này còn là nơi hình thành các di tích lịch sử có giá trị như các đền, chùa mang ý nghĩa tâm linh quan trọng đối với người dân nơi đây. Địa hình này có điều kiện thuận lợi để hình thành nên các khu vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng cuối tuần. Khí hậu: Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh.
Nhiệt độ trung bình năm 23,30. Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong 13 z khoảng 1. Trên địa bàn tỉnh có 2 hướng gió chính: gió Đông Bắc và gió Đông Nam. Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống sông ngòi khá dày đặc.
Trên địa bàn tỉnh có 3 sông chính chảy qua gồm sông Thái Bình, sông Cầu và sông Đuống. Ngoài ra còn có một số con sông nhỏ chảy qua như sông Cà Lồ, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cẩm Giàng, sông Dâu, sông Đông Côi. và nhiều ngòi, lạch. Sông ngòi ở Bắc Ninh ngoài vai trò là nguồn cung cấp nước và tiêu úng cho sản xuất nông nghiệp còn là những tuyến giao thông thủy quan trọng của địa phương và các tỉnh lân cận.
Làng mạc, các khu quần cư của người Việt trên địa bàn Bắc Ninh đã hình thành dọc bờ các con sông này, cư dân nơi đây dựa vào sông và gắn với sông không chỉ trong các hoạt động phát triển kinh tế mà còn trong đời sống tinh thần. Các DTLSVH có giá trị của Bắc Ninh hình thành cùng làng mạc dọc sông; các truyền thuyết dân gian, những làn điệu dân ca trữ tình hình thành nơi đây. tất cả tạo nên một bức tranh sinh động về làng quê Việt. Bắc Ninh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu là vật liệu xây dựng như: đất sét làm gạch, ngói, gốm phân bố ở Quế Võ và Tiên Du; đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh; đá cát kết ở Thị Cầu; đá sa thạch ở Vũ Ninh.
Ngoài ra còn có than bùn ở Yên Phong. Tài nguyên rừng không lớn, chủ yếu là rừng trồng. Địa lý hành chính: Bắc Ninh là địa bàn sinh tụ chủ yếu của người Việt cổ vùng châu thổ Bắc Bộ, Bắc Ninh từ xa xưa đã trở thành một đơn vị hành chính quan trọng của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc. Trong thời kỳ Bắc thuộc, Bắc Ninh ngày nay nằm trong huyện Luy Lâu thuộc quận Giao Chỉ.
Từ khi đất nước giành lại quyền tự chủ, qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Bắc Ninh lần lượt thuộc Giao Châu, thuộc phủ Thiên Đức, thuộc Lộ Bắc Giang rồi trấn Kinh Bắc. Trải qua nhiều biến đổi, đến năm 1831, tỉnh Bắc Ninh được xác lập. Trong thời gian 1890-1961, địa giới Bắc Ninh thay đổi nhiều lần. Tháng 10 năm 1962, tỉnh Bắc Ninh được sáp nhập với tỉnh Bắc Giang trở thành tỉnh Hà Bắc.
Ngày 6/11/1996, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX, tỉnh Bắc Ninh được tái lập [81, tr.