Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Thu nhập Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về thu nhập. Thu nhập là một khái niệm, liên quan đến sự phát triển và thỏa mãn nhu cầu của xã hội nói chung và nhu cầu của con người nói riêng (Chử Văn Lâm, 2007).
Hay thu nhập là tình trạng vật chất và tinh thần của con người; và thu nhập là tình trạng vật chất của một cá nhân, cộng đồng dân cư, một quốc gia, phụ thuộc vào thu nhập hoặc chi tiêu của từng cá nhân, cộng đồng, quốc gia đó. Từ những khái niệm này, các nhà nghiên cứu có hai cách tiếp cận khác nhau. Cách thứ nhất lấy mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người làm cơ sở xem xét dựa trên mức thu nhập hoặc chi tiêu mà người đó có được. Cách thứ hai là chọn tập hợp các điều kiện sống làm đối tượng nghiên cứu, trong đó bao gồm điều kiện về kinh tế- xã hội, môi trường sống v.[9] Thu nhập của những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển cao hay thấp thể hiện rõ nhất là tình trạng nghèo đói.
Đây là một hiện tượng khá phổ biến ở các nước kém phát triển, nơi mà dân số đông và trình độ phát triển kinh tế thấp. Thu nhập thấp- tỷ lệ nghèo đói cao vừa là hậu quả của tình trạng kém phát triển nhưng nó cũng là nguyên nhân của tình trạng kém phát triển. Ở bất cứ nơi nào khi tình trạng nghèo đói phổ biến thì những vấn đề chính trị, xã hội cũng nảy sinh và khi các xung đột xã hội xuất hiện thì nền kinh tế sẽ bị kìm hãm. Với sự nguy hiểm của vòng luẩn quẩn này, thế giới đã coi việc chống đói nghèo là một chiến lược phát triển nhằm đưa các quốc gia thoát khỏi tình trạng thiếu hụt các nguồn lực đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người và qua đó tạo sự đột phá cho sự phát triển về sau.
Mặc dù nghèo đói là hiện tượng phổ biến ở các nước đang phát triển, tuy nhiên tình trạng nghèo đói cũng có thể được quan sát ở các nước phát triển nơi mà người nghèo không hẳn chỉ là người nhập cư, mà còn bao gồm cả những người bản địa. Thu nhập thấp là tình trạng thiếu hụt các nguồn lực đáp ứng các nhu cầu cá nhân cơ bản của con người như ăn, uống, mặc, vệ sinh, nhà ở. Tình trạng cùng e 4 cực nhất của tình trạng này chính là đói, tức là tình trạng con người không không có đủ lương thực để đảm bảo cho nhu cầu ăn uống tối thiểu hàng ngày. Để xác định thu nhập tối thiểu của một quốc gia người ta đã xác định tiêu chi để đo lường như thu nhập bình quân đầu người, lượng kcalo/người/ngày so với nhu cầu tối thiểu và qua đó sẽ xác định tỷ lệ nghèo đói.
Nghèo đói là biểu hiện thu nhập thấp trong cộng đồng dân cư. Không có một định nghĩa duy nhất về nghèo, và do đó cũng không có một phương pháp hoàn hảo để đo được nó. Tại hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng cốc, Thái Lan (tháng 9 năm 2003) đã đưa ra định nghĩa như sau: "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương". Về cách tiếp cận xác định nghèo đói để đánh giá thu nhập của một quốc gia thông qua tiêu chuẩn mức độ thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu thì không có sự khác biệt trong định nghĩa nghèo đói, tuy nhiên nội hàm của khái niệm nghèo đói lại rất khác nhau giữa các tổ chức quốc tế và các quốc gia.
Mặc dù chưa đi sâu vào việc đo lường nghèo đói, nhưng quan niệm thế nào là nhu cầu cơ bản cũng khác nhau giữa các tổ chức và các quốc gia do có sự khác nhau về trình độ phát triển, các nhân tố văn hoá và truyền thống. Với các nước đang phát triển, nhu cầu cơ bản (tối thiểu) chủ yếu tập trung vào các nhu cầu vật chất như lương thực, thực phẩm, trong khi đó, đối với các nước phát triển thì các nhu cầu tối thiểu lại bao gồm cả những nhu cầu phi vật chất như nhu cầu về đi lại, về văn hoá, về phim ảnh,. Tình trạng này bắt nguồn từ thực tế là với trình độ và năng suất của các nền kinh tế phát triển, hầu hết mọi người dân đều có thể có được các nhu cầu tối thiểu về ăn uống, tuy nhiên việc có đầy đủ về các nhu cầu tối thiểu về ăn uống đối với các nước phát triển không có nghĩa là nhu cầu tối thiểu của con người đã được thoả mãn, chính vì thế người ta đưa và trong nội hàm của nghèo đói ở các nước phát triển những nhu cầu tiêu dùng tối thiểu vượt ra ngoài các nhu cầu tiêu dùng về ăn, uống, vệ sinh,. Từ thực tiễn trên, có thể thấy rằng một mặt nhu cầu cơ bản của con người thay đổi cùng với trình độ phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia.
Khi nền kinh tế e 5 càng phát triển, thu nhập gia tăng, nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống cũng ngày càng mở rộng và đòi hỏi cho tiêu dùng tối thiểu cũng ngày càng gia tăng. Mặt khác sự chênh lệch về thu nhập và sự khác nhau về nhu cầu tối thiểu đưa đến một gợi ý rằng nghèo đói chỉ là một khái niệm tương đối, với một mức tiêu dùng nào đó, một số người coi là mới chỉ bảo đảm nhu cầu tối thiểu, một số người khác thì coi đói là vượt quá nhu cầu tối thiểu. Nói một cách khác mức độ thoả mãn cuộc sống của con người cũng có sự khác nhau về mặt thời gian và không gian, và nếu lấy mức độ thoả mãn cuộc sống làm mục tiêu phát triển thì bất kỳ sự không thoả mãn với cuộc sống đều được coi là sự lạc hậu và cần phải loại bỏ. Để hiểu rõ bản chất và mức độ của nghèo đói các tổ chức quốc tế đã đưa ra sự phân biệt nghèo đói theo hai nghĩa: nghèo đói tuyệt đối và nghèo đói tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng của một số bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nó là tình trạng con người không có ăn, không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu, cần thiết. Theo quy định của Ngân hàng Thế giới (WB), nhu cầu dinh dưỡng đối với các nước Đông Nam Á phải đạt số lượng là 2.100 calo/người/ngày. + Nghèo tương đối: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định.
Nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định, tùy thuộc vào mức sống chung của xã hội. Như vậy, nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định. Từ những quan điểm trên cho thấy những khái niệm về nghèo đói tuy được diễn đạt bằng những cách khác nhau, song tựu trung lại chúng có những điểm giống và khác nhau. Giống nhau ở chỗ tiêu chí để xác định nghèo đói là thu nhập để đảm bảo thu nhập tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng.
Khác nhau về mức đánh giá nghèo đói, cụ thể, theo Hội nghị chống đói nghèo Châu á và ADB bộ phận dân cư được coi là đói nghèo khi không đạt thu nhập tối thiểu của cộng đồng; còn Việt Nam xác định trên cơ sở ngang bằng thu nhập tối thiểu của cộng đồng. Bên cạnh quan điểm về nghèo đói, tùy thuộc vào từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể cũng như mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia và mỗi vùng mà người ta có e 6 những cách tiếp cận khác nhau về nghèo đói và phát triển xã hội. Tại Việt Nam, có thể đánh giá thu nhập và sự phát triển xã hội theo các hướng sau: Tiếp cận về dinh dưỡng: Tổng cục Thống kê Việt Nam dựa vào thu nhập và chi tiêu theo đầu người để đánh giá thu nhập. Theo đó ngưỡng nghèo được xác định dựa trên chi phí cho một giỏ hàng hoá tiêu dùng bao gồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đủ đảm bảo 2.100 kcal/người/ngày.
Các hộ được coi là thuộc diện nghèo nếu mức thu nhập và chi tiêu không đủ để đảm bảo giỏ tiêu dùng này. Tiếp cận về thu nhập: Ở Việt Nam Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội dùng phương pháp dựa trên thu nhập của hộ. Các hộ được xếp là hộ có thu nhập thấp nếu thu nhập đầu người của hộ ở dưới mức chuẩn được xác định, chuẩn này có sự khác nhau giữa khu vực thành thị và nông thôn. Qua cách tiếp cận trên cho thấy người có thu nhập thấp là người có mức thu nhập không đảm bảo cho cuộc sống và chi tiêu.
Tiếp cận về xã hội: Để đánh giá sự phát triển con người, Trung tâm Khoa học, xã hội và Nhân văn Quốc gia sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI). HDI đánh giá sự phát triển con người của một quốc gia ở 3 khía cạnh: Tuổi thọ (tính theo tuổi thọ bình quân), tri thức (tính theo tỷ lệ biết chữ của người lớn và tỷ lệ tổng hợp đi học), và thu nhập (tính theo thu nhập bình quân đầu người theo phương pháp sức mua tương đương). HDI được tính theo phương pháp chỉ số và nhận giá trị lớn nhất bằng một, nhỏ nhất bằng không. Quốc gia nào có HDI càng gần 1 được đánh giá là sự phát triển con người cao và ngược lại.
Trên đây là một số khái niệm và cách đánh giá thu nhập của tổ chức quốc tế và Việt Nam. Tùy thuộc vào từng thời điểm, mục tiêu và đối tượng để có hướng nghiên cứu phù hợp. Trong đề tài này, tác giả sẽ sử dụng khái niệm thu nhập là tình trạng vật chất và tinh thần của một cá nhân, hoặc một hộ gia đình, phụ thuộc vào thu nhập hoặc chi tiêu của từng cá nhân, hộ gia đình đó, và cách tiếp cận lấy mức thỏa mãn nhu cầu của con người làm cơ sở xem xét dựa trên mức thu nhập hoặc chi tiêu mà người đó có được của hộ gia đình trong khu vực nông thôn Việt Nam để làm cơ sở khoa học cho vấn đề nghiên cứu.