Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu tri thức bản địa về việc sử dụng cây thuốc dân gian là một hướng tiếp cận quan trọng trong công tác bảo tồn nguồn gen thực vật và phát triển dược liệu học. Tại Việt Nam, địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, tạo nên sự phong phú về kinh nghiệm y học cổ truyền. Tỉnh Lào Cai là khu vực có tính đa dạng sinh học cao với thảm thực vật phong phú và là địa bàn cư trú của nhiều cộng đồng thiểu số như Tày, Nùng, Dao, Hà Nhì, Giáy, La Chí và H'Mông. Trong đó, xã Sàng Ma Sáo thuộc huyện Bát Xát có diện tích tự nhiên 7.283,98 ha, địa hình núi cao chia cắt phức tạp, khí hậu nhiệt đới gió mùa phân tầng á nhiệt đới và ôn đới, mang lại tiềm năng lớn về tài nguyên thực vật rừng. Dân số toàn xã có 865 hộ với 4.756 nhân khẩu phân bố ở 11 thôn bản, trong đó đồng bào dân tộc H'Mông chiếm tới 98,75%.
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên cây thuốc tại Sàng Ma Sáo đang đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng. Diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp do tập quán phát nương làm rẫy, chuyển đổi đất sang trồng chè, cùng với tình trạng khai thác cây thuốc theo phương thức tận diệt (chặt cành, nhổ toàn cây, đào bới rễ củ) để buôn bán qua biên giới sang Trung Quốc. Mặt khác, vốn tri thức bản địa lâu đời của đồng bào H'Mông chủ yếu được truyền miệng qua các thế hệ thầy lang và bà mế, chưa được ghi chép hệ thống, đồng thời hoạt tính sinh học cũng như cơ sở khoa học của các bài thuốc dân gian chưa được kiểm chứng bằng thực nghiệm.
Trước thực trạng đó, đề tài khóa luận xác định 03 mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc H’Mông tại xã Sàng Ma Sáo, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá trị cao được cộng đồng dân tộc H’Mông tại xã Sàng Ma Sáo, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai sử dụng trong phòng và trị bệnh.
- Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, hiện có ở khu vực nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các loài thực vật làm thuốc và hệ thống kinh nghiệm, bài thuốc truyền thống của cộng đồng dân tộc H'Mông tại xã Sàng Ma Sáo. Phạm vi nghiên cứu về không gian gồm công tác điều tra thực địa tại 11 thôn bản thuộc xã Sàng Ma Sáo (vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai) và thực nghiệm kiểm tra hoạt tính kháng khuẩn tại phòng thí nghiệm Bộ môn Vi sinh thuộc Khoa Công nghệ sinh học, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực hiện từ tháng 01 đến tháng 05 năm 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý luận về quản lý lâm sản ngoài gỗ (Non-Timber Forest Products - NTFPs) và bảo tồn đa dạng sinh học. Về mặt pháp lý, đề tài vận dụng các quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Đa dạng sinh học năm 2008, Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Đề tài cũng dựa trên khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong Tuyên ngôn Alma-Ata (1978) và Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền (1991) về việc tích hợp thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khỏe cộng đồng ban đầu.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực địa và thực nghiệm được triển khai đồng bộ gồm:
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Kế thừa số liệu thống kê điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ Báo cáo tổng kết năm 2018 của Ủy ban nhân dân xã Sàng Ma Sáo; số liệu phân loại đất đai (đất mùn thô trên núi cao, đất mùn alít, đất mùn vàng xám trên đá mácma axit) từ Viện Địa lý thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia; cùng các công trình nghiên cứu dược liệu đã công bố.
- Phương pháp điều tra cộng đồng: Tiến hành điều tra phỏng vấn bán cấu trúc đối với 25 thầy lang và người dân có kinh nghiệm sử dụng bài thuốc gia truyền thuộc dân tộc H'Mông. Phiếu điều tra được thiết kế theo mẫu chuẩn của Viện Dược liệu (1993), ghi nhận tên phổ thông, tên địa phương, dạng sống, môi trường sống, bộ phận sử dụng, cách chế biến và công dụng điều trị.
- Phương pháp thu mẫu và định danh thực vật: Thực hiện thu thập mẫu vật theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2007). Mỗi loài thu từ 3 đến 10 mẫu kèm nhãn etyket, xử lý ép tiêu bản và bảo quản bằng cồn chuyên dụng. Việc định danh tên khoa học thực hiện qua hai bước: nhận dạng sơ bộ tại thực địa và đối chiếu, giám định lại qua các tài liệu phân loại thực vật chuẩn mực bao gồm Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999), Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005) và Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 2006).
- Phương pháp đánh giá tính đa dạng và mức độ nguy cấp: Phân tích cấu trúc phân loại học, dạng sống, môi trường sống theo tiêu chuẩn của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997). Đánh giá mức độ bị đe dọa dựa vào Sách đỏ Việt Nam - Phần Thực vật (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP và Danh mục đỏ cây thuốc Việt Nam trong cẩm nang của Nguyễn Tập (2007).
- Phương pháp thực nghiệm xác định hoạt tính kháng khuẩn:
- Chuẩn bị nguyên liệu: Bộ phận thân, lá, rễ sau thu hái được rửa sạch, sấy khô ở nhiệt độ 90°C đến khối lượng không đổi, sau đó nghiền thành bột mịn bằng máy xay đa năng.
- Chiết tách cao: Dùng phương pháp ngâm nóng với dung môi methanol theo tỷ lệ 20g bột/100ml dung môi, lắc trên máy lắc 200 vòng/phút ở các mốc thời gian 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ; dịch chiết lọc qua giấy lọc và cô đặc bằng máy cô quay chân không để thu cao chiết nguyên chất, bảo quản ở 4°C.
- Chủng vi sinh vật kiểm định: Sử dụng 01 chủng vi khuẩn Gram dương là Staphylococcus aureus và 01 chủng vi khuẩn Gram âm là Escherichia coli lấy từ phòng thí nghiệm Vi sinh, nuôi cấy và bảo quản trên môi trường thạch nghiêng định kỳ 2 tuần/lần.
- Thử nghiệm khuếch tán giếng thạch: Hòa tan cao chiết vào nước ở nồng độ 100 mg/ml. Gieo 100 µl dịch vi khuẩn có mật độ $10^6 - 10^8$ tế bào/ml lên đĩa Petri chứa môi trường LB (thành phần: 10g Peptone, 5g cao nấm men, 10g NaCl/lít, pH 7,0). Sau 15 phút, đục các giếng thạch đường kính 6 mm cách nhau 2-3 cm và tra 100 µl dịch cao chiết vào mỗi giếng. Thí nghiệm lặp lại 3 lần cho mỗi chủng. Sử dụng thuốc kháng sinh Kanamycin và Amikacin làm đối chứng dương. Giữ đĩa thạch ở nhiệt độ mát trong 30 phút để dịch chiết khuếch tán, sau đó ủ trong tủ ấm ở 37°C trong 24 giờ. Đo đường kính vòng ức chế theo công thức $BK = D - d$ (trong đó $D$ là đường kính vòng vô khuẩn, $d$ là đường kính giếng thạch 6 mm).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc tại vùng cao Bát Xát và nguy cơ mai một tri thức bản địa của người H'Mông. Chương này xác định rõ 03 mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian - thời gian, đồng thời nêu bật ý nghĩa khoa học (cung cấp dẫn liệu về thành phần loài và hoạt tính kháng khuẩn) và ý nghĩa thực tiễn (làm căn cứ đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn gen dược liệu tại địa phương).
Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng kết toàn diện lịch sử nghiên cứu cây thuốc trên thế giới và tại Việt Nam:
- Trên thế giới: Tổng thuật các công trình nghiên cứu thực vật dân tộc học tại châu Á (Ấn Độ, Thái Lan, Nepal), châu Âu (Bồ Đào Nha, Ý, Albania), châu Mỹ (Brazil, Cuba, Peru, Mexico), châu Phi (Cameroon, Namibia, Uganda, Ethiopia) và châu Úc.
- Tại Việt Nam: Khái quát tiến trình sử dụng dược liệu từ thời kỳ Hùng Vương, An Dương Vương, qua triều Lý (thành lập Ty Thái Y, làng thuốc Đại Yên), triều Trần (danh y Tuệ Tĩnh với tư tưởng "Nam dược trị Nam nhân"), triều Hậu Lê (Thái Y Viện, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với bộ sách Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh), triều Nguyễn, thời kỳ Pháp thuộc, cho đến các công trình hiện đại của Đỗ Tất Lợi, Võ Văn Chi, Phạm Hoàng Hộ và Viện Dược liệu.
- Điều kiện khu vực nghiên cứu: Mô tả chi tiết địa hình núi cao chia cắt mạnh từ Tây Bắc xuống Đông Nam, các hợp lưu thủy văn Suối Nậm Pẻn và Suối Nhìu Cồ San, các nhóm đất chính, nhiệt độ trung bình từ 22–24°C, lượng mưa trung bình năm trên 1.700 mm, độ ẩm trên 80%, cùng cơ cấu kinh tế nông nghiệp của 11 thôn bản xã Sàng Ma Sáo.
Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương này mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu thực địa và thực nghiệm. Tác giả thiết lập 03 nội dung nghiên cứu trọng tâm: (1) Đánh giá đa dạng tài nguyên cây thuốc (taxon, dạng sống, sinh cảnh, độ nguy cấp); (2) Đánh giá tình hình sử dụng cây thuốc của cộng đồng H'Mông (bộ phận dùng, chế biến, nhóm bệnh); (3) Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của các loài dược liệu tiêu biểu. Quy trình phỏng vấn 25 thầy lang được cụ thể hóa bằng biểu mẫu điều tra 10 cột; phương pháp thu hái 3–10 mẫu/loài được chuẩn hóa theo Nguyễn Nghĩa Thìn; quy trình thử nghiệm vi sinh vật với 2 chủng S. aureus, E. coli và công thức xác định vòng vô khuẩn $BK = D - d$ được quy định chi tiết.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là nội dung thực nghiệm trọng tâm của khóa luận, bao gồm các phát hiện chính:
- Đa dạng phân loại học: Ghi nhận 91 loài cây thuốc thuộc 81 chi, 49 họ, phân bố trong 4 ngành thực vật có mạch. Trong đó, ngành Ngọc lan chiếm ưu thế tuyệt đối với 88 loài (96,70%), tập trung chủ yếu ở lớp Hai lá mầm (79 loài, chiếm 89,77%).
- Đa dạng bậc họ và chi: Xác định 6 họ có nhiều loài nhất là Lamiaceae (7 loài), Euphorbiaceae (7 loài), Araliaceae (5 loài), Asteraceae (5 loài), Poaceae (5 loài) và Zingiberaceae (4 loài). Ở bậc chi, ghi nhận 6 chi có từ 2 loài trở lên gồm Ocimum (3 loài), Amomum, Acanthopanax, Piper, Euphorbiaceae [các chi thuộc họ Thầu dầu] và Blumea (đều có 2 loài).
- Đa dạng dạng sống: Cây thân thảo chiếm tỷ lệ cao nhất với 52 loài (57,14%), tiếp đến là cây bụi (21 loài, 23,08%), dây leo (13 loài, 14,29%), gỗ nhỏ (4 loài, 4,40%) và thấp nhất là cây ký sinh (1 loài, 1,10% - cây Tơ vàng Cuscuta chinensis).
- Đa dạng môi trường sống: Cây phân bố tự nhiên trong rừng chiếm tỷ lệ lớn nhất (35 loài, 38,46%), tiếp theo là vườn nhà do người dân mang về thuần dưỡng (34 loài, 37,36%), ven sông suối ẩm ướt (14 loài, 15,38%) và đất đồi hoang (8 loài, 8,79%).
- Khảo sát hoạt tính sinh học: Trình bày kết quả đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết methanol từ toàn cây Câu đằng (Uncaria acida) và củ Gừng đen (Distichochlamys citrea) trên 2 chủng S. aureus và E. coli.
Phần 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị
Chương cuối tóm tắt toàn bộ các chỉ số thống kê về thành phần loài, dạng sống, phân bố sinh cảnh và hoạt tính kháng khuẩn. Đồng thời, tác giả thẳng thắn chỉ ra những hạn chế về thời gian khảo sát ngắn, mẫu điều tra giới hạn và đề xuất các giải pháp bảo tồn ex-situ, xây dựng vườn thuốc gia đình và mở rộng nghiên cứu thành phần hóa học hoạt chất.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã định lượng hóa toàn bộ thành phần taxon của hệ thực vật làm thuốc tại xã Sàng Ma Sáo qua điều tra thực địa:
| TT |
Ngành / Lớp thực vật |
Số họ |
Tỷ lệ họ (%) |
Số chi |
Tỷ lệ chi (%) |
Số loài |
Tỷ lệ loài (%) |
| 1 |
Ngành Dương xỉ (Pteridophyta) |
1 |
2,04 |
1 |
1,23 |
1 |
1,09 |
|
- Lớp Dương xỉ (Polypodiopsida) |
1 |
2,04 |
1 |
1,23 |
1 |
1,09 |
| 2 |
Ngành Thạch tùng (Lycopodiophyta) |
1 |
2,04 |
1 |
1,23 |
1 |
1,09 |
|
- Lớp Thạch tùng (Lycopodiopsida) |
1 |
2,04 |
1 |
1,23 |
1 |
1,09 |
| 3 |
Ngành Dây gắm (Gnetophyta) |
1 |
2,04 |
1 |
1,23 |
1 |
1,09 |
|
- Lớp Gắm (Gnetopsida) |
1 |
2,04 |
1 |
1,23 |
1 |
1,09 |
| 4 |
Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) |
46 |
93,88 |
78 |
96,29 |
88 |
96,70 |
|
- Lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) |
44 |
89,80 |
69 |
85,19 |
79 |
86,81 |
|
- Lớp Một lá mầm (Liliopsida) |
2 |
4,08 |
9 |
11,11 |
9 |
9,89 |
|
Tổng cộng |
49 |
100 |
81 |
100 |
91 |
100 |
Khi phân tích riêng trong Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), lớp Hai lá mầm chiếm ưu thế tuyệt đối với 44/46 họ (95,65%), 69/78 chi (88,46%) và 79/88 loài (89,77%). Lớp Một lá mầm chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ với 2 họ (4,35%), 9 chi (11,54%) và 9 loài (10,23%).
Tỷ lệ đại diện của các họ có nhiều loài cây thuốc tại xã Sàng Ma Sáo khi so sánh với tổng số loài trong cùng họ thuộc hệ thực vật Việt Nam (theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam, 2006) được thể hiện như sau:
| TT |
Họ thực vật nhiều loài |
Số loài tại Sàng Ma Sáo (1) |
Số loài trong hệ thực vật VN (2) |
Tỷ lệ % giữa (1) và (2) |
| 1 |
Poaceae (Họ Hòa thảo) |
5 |
610 |
0,82 |
| 2 |
Euphorbiaceae (Họ Thầu dầu) |
7 |
477 |
1,47 |
| 3 |
Lamiaceae (Họ Bạc hà) |
7 |
168 |
4,17 |
| 4 |
Araliaceae (Họ Ngũ gia bì) |
5 |
168 |
2,98 |
| 5 |
Zingiberaceae (Họ Gừng) |
4 |
135 |
2,96 |
| 6 |
Asteraceae (Họ Cúc) |
5 |
380 |
1,32 |
Phân tích cấu trúc dạng sống và phân bố môi trường sống của 91 loài cây thuốc ghi nhận được:
- Dạng sống: Thân thảo chiếm ưu thế vượt trội với 52 loài (57,14%), cây bụi có 21 loài (23,08%), dây leo có 13 loài (14,29%), gỗ nhỏ có 4 loài (4,40%) và cây ký sinh có 1 loài duy nhất là Tơ vàng Cuscuta chinensis (1,10%).
- Môi trường sống: Sống trong rừng tự nhiên gồm 35 loài (38,46%); sống trong vườn nhà (do các thầy lang, người dân di thực về trồng nhằm bảo tồn và tiện thu hái) gồm 34 loài (37,36%); sống ven sông suối ẩm ướt gồm 14 loài (15,38%); sống trên đất đồi nương hoang gồm 8 loài (8,79%).
Về mặt giá trị dược liệu, khóa luận ghi nhận nhiều loài thảo dược đặc hữu và có giá trị kinh tế - trị bệnh cao: Gừng đen (Distichochlamys citrea), Câu đằng (Uncaria acida), Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus), Dùi trống nhỏ (Myriactis delavayi), Khổ sâm (Croton tonkinensis), Cẩu tích (Valeriana hardwickii), Phèn đen (Phyllanthus reticulatus), Cỏ sữa lá lớn (Euphorbia hirta), Bỏng nổ (Flueggea virosa), Bạch hoa xà thiệt thảo (Hedyotis diffusa), Mạch môn đông (Ophiopogon japonicus), Mía dò (Costus speciosus), Địa liền (Kaempferia angustifolia), và Nghệ đen (Curcuma aeruginosa).
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc bước đầu thực nghiệm hóa hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết methanol từ cây Câu đằng và củ Gừng đen đối với hai chủng vi khuẩn kiểm định Staphylococcus aureus và Escherichia coli. Kết quả này xác lập cơ sở sinh học thực nghiệm, củng cố kinh nghiệm sử dụng dược liệu lưu truyền trong cộng đồng người H'Mông tại địa phương. Về mặt giải pháp, tác giả kiến nghị chính quyền địa phương và Hạt Kiểm lâm Bát Xát cần tăng cường kiểm soát việc khai thác tận diệt cây thuốc bán qua biên giới, đẩy mạnh mô hình trồng cây thuốc dưới tán rừng và bảo tồn nguồn gen tại vườn hộ gia đình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ rõ các hạn chế xuất phát từ điều kiện thực tế của nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu ngắn: Toàn bộ đợt điều tra thực địa và thực nghiệm chỉ diễn ra trong vòng 5 tháng (từ tháng 01 đến tháng 05 năm 2019), chưa bao quát hết chu kỳ phát triển của thảm thực vật qua các mùa khác nhau trong năm, dẫn đến khả năng bỏ sót một số loài chỉ xuất hiện hoặc ra hoa vào mùa mưa hay mùa thu đông.
- Quy mô khảo sát cộng đồng: Nghiên cứu mới phỏng vấn trực tiếp được 25 thầy lang và người dân có kinh nghiệm; địa bàn vùng cao đi lại hiểm trở nên phạm vi tiếp cận các thôn bản xa xôi còn giới hạn.
- Phạm vi thực nghiệm sinh học: Đề tài mới chỉ dừng lại ở bước chiết tách cao thô toàn phần bằng dung môi methanol và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn trên 02 loài thực vật (Câu đằng và củ Gừng đen) với 02 chủng vi khuẩn chuẩn (S. aureus và E. coli), chưa phân lập sâu các phân đoạn hoạt chất thứ sinh tinh khiết và chưa thử nghiệm trên các chủng nấm mốc hoặc vi khuẩn gây bệnh lâm sàng khác.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Mở rộng khảo sát thực địa bổ sung theo chu kỳ 12 tháng tại toàn bộ 11 thôn bản của xã Sàng Ma Sáo và vùng đệm lân cận nhằm hoàn thiện danh lục thực vật làm thuốc.
- Mở rộng quy mô thực nghiệm: Phân tích định tính, định lượng các nhóm hoạt chất (alkaloid, flavonoid, saponin, tinh dầu) từ cao chiết Câu đằng và Gừng đen, đồng thời khảo sát thêm hoạt tính kháng nấm, kháng viêm và độc tính tế bào của các bài thuốc gia truyền H'Mông.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Sinh viên và học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Sinh thái và Bảo tồn Đa dạng sinh học, Lâm nghiệp, Quản lý Tài nguyên Rừng, Thực vật học, Dược liệu học và Dược học cổ truyền. Khóa luận là tài liệu mẫu mực về phương pháp điều tra thực vật dân tộc học kết hợp nghiên cứu thực nghiệm sinh học.
- Cán bộ quản lý và bảo tồn: Hạt Kiểm lâm huyện Bát Xát, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai có thể sử dụng danh lục 91 loài cây thuốc cùng số liệu phân bố sinh cảnh làm tài liệu cơ sở để xây dựng kế hoạch khoanh nuôi bảo vệ, lập danh mục bảo tồn nguồn gen bản địa quý hiếm.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Quy trình thiết kế phiếu điều tra tri thức bản địa theo mẫu Viện Dược liệu; kỹ thuật xử lý và định danh tiêu bản thực vật vùng cao theo phương pháp Nguyễn Nghĩa Thìn; quy trình ngâm chiết cao methanol và kỹ thuật thử nghiệm kháng khuẩn bằng phương pháp khuếch tán giếng thạch.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu loài cây thuốc và cơ cấu phân loại học ở bậc ngành như thế nào?
Nghiên cứu đã ghi nhận được 91 loài cây thuốc thuộc 81 chi và 49 họ, phân bố trong 4 ngành thực vật có mạch: Ngành Dương xỉ (Pteridophyta) có 1 loài (Bòng bong Lygodium japonicum); ngành Thạch tùng (Lycopodiophyta) có 1 loài (Thông đất Lycopodiella cernua); ngành Dây gắm (Gnetophyta) có 1 loài (Dây gắm Gnetum montanum); và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế với 88 loài (96,70% tổng số loài), 78 chi và 46 họ.
2. Dạng sống và môi trường sống của các loài cây thuốc tại xã Sàng Ma Sáo phân bố ra sao?
Về dạng sống, cây thân thảo chiếm tỷ lệ cao nhất với 52 loài (57,14%), kế tiếp là cây bụi với 21 loài (23,08%), dây leo có 13 loài (14,29%), gỗ nhỏ có 4 loài (4,40%) và cây ký sinh chiếm tỷ lệ thấp nhất với 1 loài (1,10% - Tơ vàng Cuscuta chinensis). Về môi trường sống, cây mọc tự nhiên trong rừng có 35 loài (38,46%), cây di thực về trồng trong vườn nhà có 34 loài (37,36%), sống ven sông suối ẩm ướt có 14 loài (15,38%) và sống trên đồi có 8 loài (8,79%).
3. Những họ thực vật nào có số lượng loài làm thuốc nhiều nhất tại khu vực nghiên cứu?
Có 6 họ chiếm ưu thế về số loài gồm: họ Bạc hà (Lamiaceae) và họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) đều có 7 loài; họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Cúc (Asteraceae) và họ Hòa thảo (Poaceae) đều có 5 loài; họ Gừng (Zingiberaceae) có 4 loài. Đáng chú ý, số loài của họ Bạc hà ghi nhận tại Sàng Ma Sáo chiếm tới 4,17% tổng số loài của họ này trong toàn bộ hệ thực vật Việt Nam.
4. Hai loài cây thuốc nào được tác giả lựa chọn để thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn và phương pháp thực hiện như thế nào?
Tác giả chọn cây Câu đằng (Uncaria acida) và củ Gừng đen (Distichochlamys citrea). Mẫu bột sấy khô được ngâm chiết với methanol theo tỷ lệ 20g/100ml, lắc 200 vòng/phút, cô quay chân không thu cao chiết. Hoạt tính kháng khuẩn được thử nghiệm bằng phương pháp khuếch tán giếng thạch (đường kính giếng 6 mm, nồng độ cao 100 mg/ml) trên môi trường LB đối với hai chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus (Gram dương) và Escherichia coli (Gram âm), sử dụng Kanamycin và Amikacin làm đối chứng dương.
5. Vì sao số lượng cây thuốc sống trong vườn nhà lại chiếm tỷ lệ cao xấp xỉ cây thuốc sống trong rừng tự nhiên?
Tỷ lệ cây thuốc trong vườn nhà đạt tới 37,36% (34 loài), chỉ đứng sau môi trường rừng tự nhiên (38,46% với 35 loài). Nguyên nhân do ý thức của các thầy lang, bà mế và người dân địa phương nhận thấy nguồn tài nguyên cây thuốc trong rừng sâu ngày càng cạn kiệt do bị khai thác bán sang Trung Quốc, nên họ đã chủ động đào và di thực các loài cây thuốc quý (như Gừng đen, Xuân hoa đỏ, Mạch môn đông) về trồng quanh vườn nhà nhằm bảo tồn nguồn giống và tạo sự thuận tiện cho việc thu hái, chữa bệnh hàng ngày.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Lò Văn Nhan đã hệ thống hóa toàn diện nguồn tài nguyên cây thuốc và tri thức y học dân gian của cộng đồng dân tộc H'Mông tại xã Sàng Ma Sáo, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai với 91 loài thuộc 81 chi và 49 họ thực vật bậc cao có mạch. Công trình chỉ ra đặc điểm sinh thái nổi bật với ưu thế thuộc về nhóm thân thảo (57,14%) và hai sinh cảnh chính là rừng tự nhiên cùng vườn nhà do người dân chủ động thuần dưỡng. Thông qua phương pháp khuếch tán giếng thạch, nghiên cứu đã bước đầu xác lập cơ sở khoa học về hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết Câu đằng và Gừng đen đối với hai chủng vi khuẩn S. aureus và E. coli. Đây là tài liệu khoa học thực địa có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển nguồn gen dược liệu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát.