đặt vấn đề tìm kiếm các chất tự nhiên có tính sinh học cao để tiến hành nghiên cứu tạo thành thuốc đang là vấn đề quan tâm hàng đầu. Từ thời xa xƣa, các thầy thuốc Việt Nam đã tìm kiếm và phát hiện ra nhiều cây thuốc có các hoạt chất có thể bào chế ra thành các loại thuốc có tác dụng cứu chữa ngƣời. Với ƣu điểm có nhiều loại dƣợc liệu quý có chứa các hoạt chất tự nhiên có tính sinh học cao, hiện nay một số loại dƣợc liệu đã đƣợc điều chế thành thuốc nhƣ chiết berberin từ cây vàng đắng ( Coscinium fenestratum), rutin từ hoa hè, morphin từ cây thuốc phiện ( Papaver somniferum), papain từ cây đu đủ ( Carica papaya), diosgenin từ củ mài ( Dioscroea deltoidea), curcumin từ nghệ vàng ( Curumin longa). Trong đó, có rất nhiều loại hoạt chất quan trọng nhƣ quinin, morphin, strychinin,.
đều phải chiết từ dƣợc liệu mà chƣa thể đi bằng con đƣờng tổng hợp hóa học ( Phùng Tuấn Giang,2017).Từ đây, có thể thấy, việc tiến hành phân tích và khảo sát họat tính kháng khuẩn, hàm lƣợng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa của dƣợc liệu là điều cần thiết nhằm mục đích đánh giá đúng khả năng và hoạt tính của các loại dƣợc liệu .Đối với các loại dƣợc liệu nhƣ lá Sâm nam núi Dành ;Hoàng Kỳ và Bồ kết từ lâu trong các bài thuốc dân gian đã có công dụng rất lớn trong việc bào chế thuốc chữa bệnh, tăng cƣờng sức đề kháng, bồi bổ cơ thể,. Chính vì vậy, các dƣợc liệu này sẽ chứa rất nhiều tiềm năng trong việc nghiên cứu và phát triển dƣợc phẩm, đây có thể coi là dƣợc liệu lý tƣởng có khả năng thay thế thuốc kháng sinh do nó có chứa ƣu thế vƣợt trội hơn không chỉ về giá thành mà còn về cả hiệu quả và chất lƣợng .Vì tất cả những yếu tố trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu nhằm mục đích chiết xuất và đánh giá khả 1 năng kháng khuẩn, hàm lƣợng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa của các cây dƣợc liệu lá Sâm nam núi Dành ;Hoàng Kỳ và Bồ kết. Mục đích - yêu cầu Chứng minh đƣợc dƣợc liệu lá Sâm nam núi Dành; Hoàng Kỳ và Bồ kết có tác dụng ức chế vi khuẩn trên 9 chủng vi khuẩn Escheria coli ATCC 2522 ; Escheria coli ATCC 35218; Escheria coli ATCC 85922 ; Staphylococcus aureus ATCC 25923 ; Staphylococcus aureus ATCC 25023; Pseudomonas aeruginosa ATCC 9027 ; Bacillus subtilis ATCC 7953 ; Geobacillus stearothermophillis ATCC 7953 ; Salmonella ATCC 13311. Tiến hành khảo sát và so sánh hàm lƣợng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa của các dịch chiết dƣợc liệu lá Sâm nam núi Dành ; Hoàng Kỳ và Bồ kết.
Đánh giá hiệu quả của dƣợc liệu với các đặc điểm nhƣ hoạt tính kháng khuẩn, hàm lƣợng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa đối với 6 dung môi đƣợc tiến hành nghiên cứu methanol , ethanol, hexan, nƣớc nóng ( dw), ethyl acetate. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN THUỐC CÓ NGUỒN GỐC THẢO DƢỢC 2. Nhu cầu sử dụng thuốc chiết xuất từ thảo dƣợc tự nhiên trên thế giới Hiện nay trên thế giới, nhu cầu sử dụng dƣợc liệu trên thế giới ở quy mô khá lớn và là một trong những ngành có mức độ tăng trƣởng rất nhanh.
Có thể thấy, thị trƣờng thƣơng mại toàn cầu khoảng 130 tỷ USD, với tốc độ tăng trƣởng 6-7% trên năm cho ba phân khúc lớn sản xuất thuốc, thực phẩm và chế phẩm, mỹ phẩm làm đẹp (Viện nghiên cứu & Phát triển cây dƣợc liệu - Ban Khoa học và Công nghệ Học Viện Nông nghiệp Việt Nam). Còn theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), có tới khoảng 80% tổng dân số nông thôn và các nƣớc phát triển vẫn dựa vào thuốc thảo dƣợc để chăm sóc sức khỏe cộng đồng (TS.Lƣơng y Phùng Tuấn Giang, 2017). Cũng theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO) , hiện nay có khoảng 20.000 loài thực vật bậc cao có mạch và ngành thực vật bậc thấp đƣợc nghiên cứu sử dụng trực tiếp làm thuốc hoặc là cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc. Trong đó, các vùng nhiệt đới nhƣ Châu Mỹ có tới hơn 1.900 loài, vùng nhiệt đới nhƣ Châu Á có tới khoảng 6.500 loài thực vật có hoa đƣợc dùng làm nghiên cứu thuốc.
Mức độ sử dụng thuốc thảo dƣợc có thể nói là ngày cao. Các nhà khoa học trên thế giới đã và đang tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các loại hợp chất hóa học có tác dụng chữa bệnh trong các loại cây dƣợc liệu, để từ đó, tiến hành sàng lọc, đúc kết thành các bài thuốc ghi chép trong sách - tạo thành những cuốn sách có giá trị cao đối với nhân loại sau này. Các loại cây dƣợc liệu đều có chứa khả năng kháng sinh - đó chính là khả năng miễn dịch mang tính tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật, tiêu biểu nhƣ phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino,ancaloid, flavonoid, saponin,. đã đƣợc các nhà khoa học trên thế giới công nhận.
Ngƣời ta có thể tổng hợp nên các chất nhân tạo để chữa bệnh dựa trên các cấu trúc đã đƣợc giải mã. Một số loại dƣợc liệu đã đƣợc nghiên cứu và chiết xuất các dịch chiết tạo thành thuốc chữa bệnh có thể kể tới nhƣ từ cây Lô hôi (Aloe vera), Gotshall (1950) đã phân lâp dƣợc chất Glycosid barobaloid - chất này có tác dụng với vi khuẩn gây bệnh lao ở ngƣời và có tác dụng với cả vi khuẩn Bacilus subtilis hoặc trong lá và 3 rễ cây Hẹ(Allium odorum) có chứa các hợp chất nhƣ sunfua,saponin và chất đắng, cây dƣợc liệu Hoàng Liên(Coptis teeta), ngƣời ta cũng đã chiết xuất đƣợc berberin. Năm 1948, Shen-Choi-Shen đã thành công phân lâp đƣợc một loại hợp chất Odorin ít gây độc tới các loại động vật bậc cao nhƣng lại có tác dụng kháng khuẩn. Hạt của cây Hẹ cũng chứa một lƣợng lớn chất Alcaloid có tác dụng trong việc kháng khuẩn gram (+) và gram (-) hoặc là kể cả đối với các loại nấm.
Đối với việc hạ huyết áp, các chất nhƣ Reserpin và Serpentin cũng đã đƣợc tìm thấy và chiết xuất từ cây dƣợc liệu Ba gạc ( Rauvolfia spp. Đặc biệt, các chất nhƣ Vinblastin và Vincristin là những chất vừa có tác dụng hạ huyết áp, vừa có tác dụng làm thuốc chống gây ung thƣ đƣợc tìm thấy có trong cây Dừa cạn. Một số chất khác nhƣ Digitalin cũng đƣợc tìm thấy có trong cây Dƣơng địa hoàng (Digitalis spp.), strophatin đƣợc chiết xuất từ cây Sừng dê ( Strophanthus spp.) có tác dụng trong bào chế thành thuốc trợ tim,. Dựa trên các kết quả nghiên cứu trên thế giới có thể thấy đƣợc những tiềm năng phát triển của các loại thuốc có nguồn gốc từ dƣợc liệu tự nhiên.
Với việc có nhiều loại thảo dƣợc dồi dào thì việc có thể nghiên cứu và phát triển các bài thuốc mang các loại dƣợc chất tự nhiên là vô cùng thuận lợi. Tiềm năng phát triển thuốc có nguồn gốc dƣợc liệu phòng trị bệnh ở Việt Nam. Nguyễn Xuân Cƣờng - cố vấn cấp cao của Học Viện Nông nghiệp Việt Nam chỉ ra rằng, chỉ tính riêng nhu cầu về thuốc theo Cục Dƣợc Việt Nam bình quân hiện nay có khoảng 40-60 USD/ngƣời/năm với tốc độ tăng trƣởng 12-14%/năm và nhƣ vậy vào khoảng 7-8 tỷ USD/năm, chủ trƣơng của chúng ta là tập trung vào việc phát triển công nghiệp dƣợc liệu chủ động dựa vào nền sản xuất công nghiệp trong nƣớc và nền tảng dƣợc liệu thông qua các mục tiêu, tiêu chí, định hƣớng, nhóm giải pháp tại Quyết định số 376/QĐ-TTg của Thủ tƣớng chính phủ về chƣơng trình phát triển công nghiệp dƣợc, dƣợc liệu sản xuất trong nƣớc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. So với các nƣớc khác trên thế giới, Việt Nam có thể đƣợc coi là một trong những nƣớc có các điều kiện tự nhiên tối ƣu nhƣ khí hậu, vị trí địa lí,.
đất đai rất phù hợp với nhiều loại cây trồng, trong đó có nhiều loại thảo dƣợc quý hiếm, không những thế còn chiếm ƣu thế về hệ thống sinh thái tự nhiên phong phú, đa dang về số lƣợng chủng loài các 4 loại thảo dƣợc - có thể ƣớc tính với hơn 12 nghìn loại thực vật, trong đó có gần hơn 4 nghìn loài có công dụng làm thuốc và đƣợc xếp vào một trong những loại thảo dƣợc quý hiếm trên thế giới tiêu biểu có thể kể tới nhƣ Sâm Ngọc Linh, Sâm Vũ Điệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Hoàng Liên Ô Rô, Thanh Thiên Qùy, Ba gạc Vĩnh Phúc,. Theo ƣớc tính hiện nay, Việt Nam đã xác định đƣợc 3.830 loài cây dƣợc liệu đƣợc dùng làm thuốc, chiếm khoảng 36 % trong số 10.500 loài thực vật bậc cao có mạch đã biết.000 loài cây làm thuốc trên toàn thế giới, số loài cây thuốc Việt Nam chiếm khoảng 11%. Sự hiểu biết, tri thức truyền thống về cây thuốc của các dân tộc, cộng đồng, ngƣời dân bản địa khác nhau đã góp phần tạo ra những bài thuốc gia truyền có ý nghĩa trong chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân (Đăng Hải,2019).Hiện cả nƣớc mới có 226 cơ sở sản xuất dƣợc liệu, thuốc cổ truyền, hơn 1.400 cơ sở sản xuất thực phẩm chức năng với nhu cầu khoảng 20. Tuy nhiên, quy mô cũng nhƣ trình độ sản xuất còn non yếu, lạc hậu, thiếu tính liên kết, 80% nguyên liệu phải nhập khẩu từ nƣớc ngoài.
Chất lƣợng các sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu trong nƣớc còn nhiều hạn chế. Từ thời cổ xƣa, con ngƣời Việt Nam đã biết cách dùng các loại cây trong tự nhiên để bào chế thành thuốc phòng và chữa bệnh. Theo thời gian, những kinh nghiệm này đƣợc lƣu truyền, chọn lọc và nghiên cứu tìm kiếm những bằng chứng khoa học đáng tin cậy, rõ ràng hơn. Tính tới thời điểm bây giờ, đã có rất nhiều thành tựu có thể đánh giá đúng mực vai trò và tiềm năng phát triển của việc ứng dụng thuốc thảo dƣợc thay thế cho các loại thuốc kháng sinh nhân tạo trên thị trƣờng, nghiên cứu tiêu biểu là của PGS.TS Trần Văn Ơn đã tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “ Sàng lọc các bài thuốc dƣợc liệu có tác dụng hạ đƣờng huyết” vào năm 2007, ông đã dựa trên tài liệu về loài cây Gymnema có tác dụng hạ đƣờng huyết ở Ấn Độ (tiếng Ấn Độ gọi là cây Gumar).
Loài cây này thuộc họ thiên lý này đƣợc sử dụng tại Ấn Độ từ 2000 năm trƣớc để trị bệnh “ nƣớc tiểu ngọt nhƣ mật”, tài liệu còn chỉ ra rằng, loài cây này cũng phân bố ở những vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm, trong đó có Việt Nam.