Mở đầu - Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu - Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Kết quả - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo 3 Đồ án tốt nghiệp CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về cây lá đắng. Nguồn gốc Cây lá đắng thuộc họ Cúc (Asteraceae) là họ lớn và phổ biến rộng rãi hiện nay, bao gồm 1000 chi và 20,000 loài, phân bố ở khắp các nƣớc trên thế giới. sống đƣợc ở rất nhiều môi trƣờng khác nhau.
Ở nƣớc ta, có 125 chi và 350 loài, phân bố rộng rãi từ vùng ven biển đến các vùng núi cao tới 3000 m so với mặt biển. Phân loại Phân loại khoa học của cây Lá đắng: Giới Plantae Bộ Asterids Họ Asteraceae Chi Vemonia Loài Vemonia Amygdalina Tên khoa Vemonia Amygdalina học Del Hình 1. Đặc điểm và sự phân bố 1. Đặc điểm thực vật học Cây lá đắng sống lâu năm, là dạng cây bụi mọc thẳng đứng, chỉ cao từ 2-3m, đƣờng kính thân rất nhỏ khoảng 2-4 cm, cây thƣờng phân nhánh ở cành gốc, khi còn non thân cây đƣợc phủ một lớp lông trắng mịn về già lớp lông này rụng dần 4 Đồ án tốt nghiệp hết; cuống lá dài, phiến lá hình trái xoan ngƣợc, mép lá có hình răng cƣa, lá đơn mọc cách, phiến lá hình trái xoan có thể dài tới 20 cm, đầu lá nhọn, đuôi là nhọn hoặc hình nêm.
Cây này có nguồn gốc từ châu Phi và hiện nay cây có mặt khắp nơi trên thế giới do cây dễ trồng dễ mọc. Phân bố Ấn độ (Bihar, Madhya Pradesh, Odisha, West Bengal); châu Phi nhiệt đới; hiện nay cây Lá Đắng đã có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, cây lá đắng đƣợc trồng ở nhiều nơi do đặc tính dễ trồng. Tính chất dược lý của cây lá đắng.
Những hợp chất trong Lá đắng có tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh do quá trình viêm mạn tính, lão hoá, bệnh nhiễm giun sán, động vật nguyên sinh (protozoan) và vi khuẩn. Theo công bố trên Quyển Y – Sinh học thực nghiệm tháng 2 năm 2004 (Experimental Biology and Medicine of February 2004 Edition) cho thấy lá Đắng có tác dụng hạ thấp tỉ lệ nguy cơ bị ung thƣ vú. Lá Đắng dùng nấu dạng canh rau hay xay nhuyễn lấy nƣớc uống nhƣ dạng nƣớc bổ dƣỡng trong nhiều dạng bệnh lý khác nhau. Nhiều thầy thuốc ở Châu Phi khuyên ngƣời dân dùng trị bệnh đƣờng tiêu hoá, đái tháo đƣờng, chán ăn, kiết lỵ và các chứng rối loạn tiêu hoá.
Các Polyphenol có tính kháng viêm và anti – oxidant, thải độc, bảo vệ thận, gan, hỗ trợ điều trị một số bệnh ngoài da. Giảm đƣờng huyết, bao vệ tim mạch do giúp ổn định lipid máu. Kiểm soát đƣờng huyết nhờ các hợp chất đắng trong lá nên tốt cho ngƣời đái tháo đƣờng. Tăng cƣờng hệ miễn dịch cho cơ thể.
Chữa rối loạn tiêu hóa, đau bụng và tả lỵ. Hạ sốt và điều trị cảm lạnh tích cực nhờ các hợp chất xanthones, acid phenolic trong lá. 5 Đồ án tốt nghiệp Điều trị các bệnh qua đƣờng tình dục nhƣ bệnh lậu nhờ tác dụng của các chất chống oxy hóa trong lá. Chống ung thƣ.
Duy trì sức sống tình dục. Giúp nhuận trƣờng và chữa táo bón. Chống sốt rét vì chất đắng trong lá có thể thay thế cho quinin. Chữa đau họng, ho, trừ đờm, chỉ cần nhai một lá trƣớc khi đi ngủ vào ban đêm và sáng sớm sẽ thấy giảm các triệu chứng ho.
Tăng cƣờng khả năng sinh sản, uống nƣớc lá đắng giúp kích thích khả năng sinh sản ở phụ nữ khó sinh. Các lá có chứa nhiều carotene, giúp cân bằng quá trình tổng hợp các hormon sinh dục nữ và duy trì nồng độ estrogen do đó giúp phụ nữ khỏe mạnh và kéo dài tuổi xuân. Chống buồn nôn và tăng cƣờng cảm giác ngon miệng. Hỗ trợ điều trị viêm gan siêu vi B và C.
Tăng tiết sữa cho con bú. Hạ cholesterol xấu. Tẩy độc cho cơ thể, bảo vệ gan thận. Giảm đau và làm êm dịu thần kinh dễ ngủ.
Chống mẩn ngứa ngoài da. Một số bài thuốc dân gian: Lấy 10 lá, rửa sạch, bỏ vào bình hãm với 1.5 lít nƣớc sôi, đợi khoảng 15 phút là uống đƣợc. Uống thay nƣớc lọc hàng ngày. Cách này giúp duy trì sức sống tình dục, chống xuất tinh sớm.
Lấy 8 lá mật gấu, rửa sạch, giã nát hoặc xay nhuyễn, pha với nửa cốc bia, vắt lấy nƣớc uống trƣớc khi đi ngủ để trị thoái hóa đốt sống cổ. Ấn Độ: dùng lá chữa tiểu đƣờng, dùng cành, rễ hỗ trợ điều trị HIV, hạ sốt, giảm ho, phát ban, cảm cúm, viêm vú. Congo: dùng lá và vỏ rễ chữa kiết lỵ, viêm dạ dày, ruột, sốt rét, viêm gan, nhiễm giun. Nam Phi: dùng rễ chữa sán máng (huyết hấp trùng), hiếm muộn, rối loạn kinh nguyệt.
6 Đồ án tốt nghiệp Ở khu vực Tây Phi: dùng lá làm trà lợi tiểu, chữa táo bón, nhiễm trùng da, đái đƣờng, bệnh chuyển hóa liên quan đến gan… Ở Châu Phi: Trong một thí nghiệm lâm sàng sơ bộ, ngƣời ta dùng nƣớc sắc từ 25g lá tƣơi của cây Lá đắng điều trị cho các bệnh nhân sốt rét bởi ký sinh trùng đơn bào Plasmodium falciparum mức độ nhẹ ở châu Phi thấy rằng 67% có phản ứng lâm sàng, và trong số đó thì 71% là có các triệu chứng tái phát.[6] Không có phản ứng phụ trong quá trình thí nghiệm sơ bộ. Tổng quan về các hợp chất thứ cấp có khả năng kháng khuẩn trong thực vật 1. Định nghĩa Alkaloid có nguồn gốc từ chữ alkali (tiếng ả rập) là kiềm. Những hợp chất alkaloids có chứa dị vòng nitơ, có tính base thƣờng gặp ở trong nhiều loài thực vật và đôi khi còn tìm thấy trong một vài loài động vật, có phản ứng kiềm cho các muối với acid và các muối này dễ kết tinh, chúng là một nhóm hợp chất thiên nhiên quan trọng về nhiều mặt, đặc biệt trong lĩnh vực y học, có giá trị chữa bệnh cao và độc đáo (R.
Phân loại Các alkaloid thông thƣờng đƣợc phân loại theo đặc trƣng phân tử chung của chúng, dựa trên kiểu trao đổi chất đƣợc sử dụng để tạo ra phân tử. Khi không biết nhiều về tổng hợp sinh học của các alkaloid, thì chúng đƣợc gộp nhóm theo tên gọi của các hợp chất đã biết. Các nhóm alkaloid hiện nay bao gồm: Nhóm pyridin: piperin, coniin, trigonellin, arecaidin, guvacin, pilocarpin, cyt isin, sppartein, pelletierin. Nhóm pyrrolidin: hygrin, cuscohygrin, nicotin Nhóm tropan: atropin, cocain, ecgonin, scopolamin Nhóm quinolin: quinin, quinidin, dihydroquinin, dihydroquinidin, strychnin, brucin, veratrin, cevadin 7 Đồ án tốt nghiệp Nhóm isoquinolin:Các ancaloit gốc thuốc phiện nhƣ morphin, codein, thebain, papaverin, narcotin, sanguinarin, narcein, hydrastin,.
Nhóm phenethylamin: mescalin, ephedrin, dopamin, amphetamin Nhóm indol: Các tryptamin: DMT, N-metyltryptamin, psilocybin, serotonin Các ergolin: Các ancaloit từ cựa ngũ cốc/cỏ nhƣ ergin, ergotamin, axít lysergic v. Công thức phân tử Enpherine 1. Tính chất của alkaloid Tính base: alkaloid là các base yếu, do sự có mặt của nguyên tử N. Nhƣng độ kiềm của alkaloid không giống nhau do ảnh hƣởng khác nhau của lớp điện tích nguyên tử N gây ra và ảnh hƣởng của các nhóm chức khác.
Tính base của alkaloid giảm dần theo thứ tự amoni bậc 4, amoni bậc 1, amoni bậc 2, amoni bậc 3. Các base yếu sẽ cần môi trƣờng acid mạnh hơn để tạo thành muối trong dung dich nƣớc. Vì vậy ở môi trƣờng acid yếu một số alkaloid base mạnh có thể chuyển thành muối trong khi các base yếu vẫn tồn tại trong dung dịch dƣới dạng base. Tính hòa tan: Hầu hết các alkaloid base thực tế không tan trong nƣớc nhƣng tan trong các dung môi hữu cơ nhƣ CHCl3, ete và các ancol bậc thấp.
Một số nhóm alkaloid có thêm các nhóm phân cực nên tan đƣợc một phần trong nƣớc hoặc trong kiềm. Ngƣợc lại, các muối alkaloid thƣờng tan trong nƣớc, cồn và không tan trong các dung môi ít phân cực. Mặt khác còn tùy theo tính chất của alkaloid nhƣ loại bay 8 Đồ án tốt nghiệp hơi hoặc không bay hơi mà dùng phƣơng pháp chiết xuất cho thích hợp (Phan Đình Châu, 1997). Vai trò của alkaloid Các alkaloid trong thực vật có hàm lƣợng rất thấp và khó tách chiết.
Có vai trò rất lớn trong y học, dƣợc phẩm… Đối với thực vật: là những chất chuyển hóa thức cấp, chất bài tiết hoặc là sản phẩm cuối trong quá trình chuyển hóa thực vật. Là những chất dự trữ nitơ trong thực vật. Là những chất bảo vệ, chống các sinh vật ăn thực vật. Đối với con ngƣời: alkaloid thƣờng có hoạt tính sinh học mạnh đến rất mạnh.
Một số chất dùng làm chất độc trong săn bắn (tubocurarin, curare) (Phan Đình Châu, 1997). Định nghĩa Flavonoid là một nhóm lớn các hợp chất tự nhiên hay gặp trong thực vật, thƣờng có màu sắc, phần lớn là màu vàng. Tuy nhiên một số hợp chất có màu xanh, tím, đỏ cũng đƣợc xếp và nhóm lớn flavoid vì đứng về mặt hóa học, chúng có cùng một loại khung (Ngô Văn Thụ, 1978). Phân loại Flavonoid có cấu trúc mạch C6C3C6, đều có 2 vòng thơm.
Tùy thuộc vào cấu tạo phần mạch C3 trong bộ khung C6C3C6, flavonoid đƣợc phân thành các nhóm sau: Eucoflavonoid: flavon, flavonol, flavanol, flavanon, chalcon, antocyanin,anthocyanidin. 9 Đồ án tốt nghiệp Hình 1. Một số Eucoflavonoid - Flavon rất phổ biến trong thực vật: Thông, Hoàng cầm (rễ), Mè (lá), Anh thảo, cây la apirenin và luteolin. - Chalcon có chủ yếu ở trong một số cây họ Cúc - Asteraceac tập trung nhiều nhất ở vỏ cây, gỗ lõi (Keo, Bạch đàn, Dẻ, Đậu tƣơng, Trinh nữ hoàng cung, Dƣơng xỉ…).
Không tìm thấy ở động vật. - Isoflavonoid: Isoflavon, isoflavanon, rotenoid. Cấu tạo Isoflavon và rotenoid - Neoflavonoid: neoflavon và calophylloid 10 Đồ án tốt nghiệp Hình 1. Cấu tạo Calophyllolid 1.
Tính chất của flavonoid Tính chất đặc trung của các hợp chất flavonoid là phản ứng xianidin (hỗn hợp Mg + HCl trong môi trƣờng cồn etylic) hƣớng H+ vào nối đôi của vòng C. Các hợp chất flavonoid tham gia phản ứng phân hủy kiềm (đen hồi lƣu với dung dịch KOH 30 – 50%) sẽ mở vòng piron (đối với các nhóm có sự đóng vòng C) rồi dẫn đến tạo thành các dẫn xuất acid thơm, phenol, acid acetic. Tùy theo nhóm thế vào vị trí thế với vòng A, B mà có các dẫn xuất acid thơm và phenol khác nhau. Ngoài ra cấu trúc các hợp chất flavonoid có hai vòng benzen nên nó tham gia đầy đủ các phản ứng nhƣ nhân thơm bình thƣờng, (Ngô Văn Thụ, 1978).
Vai trò Một số dẫn chất của flavonoid có tác dụng thông tiểu nhƣ quecxitrin có trong lá diếp cá, scoperozit có trong cây Sarothamnus scoparius K Một số có tác dụng kháng khuẩn nhƣ acvicularin, guajaverin. Các flavonoid của cam thảo có tác dụng chống loét dạ dày và tá tràng.