Luận án về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài sưa Dalbergia tonkinensis ở Việt Nam

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài sưa Dalbergia tonkinensis Prain tại Việt Nam, góp phần bảo tồn và phát triển.

Trường đại học

Trường Đại Học Tây Nguyên

Chuyên ngành

Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

145
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỌ ĐẬU (FABACEAE) VÀ CHI TRẮC (DALBERGIA)

1.1. Khái quát về họ Đậu (Fabaceae)

1.2. Khái quát về chi Trắc (Dalbergia)

1.3. Về mặt hình thái

1.4. Về giá trị

1.5. Sản phẩm từ gỗ chi Trắc (Dalbergia)

1.6. Sự phân bố

1.7. Tổng quan về loài Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain)

1.7.1. Về mặt hình thái

1.7.2. Giá trị khoa học và bảo tồn

1.7.3. Phân bố

2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CHI TRẮC (DALBERGIA) TRÊN THẾ GIỚI

2.1. Tổng quan nghiên cứu thành phần hóa học các loài Dalbergia

2.2. Hợp chất phenolic thiên nhiên

2.2.1. Hợp chất khung flavan

2.2.2. Hợp chất khung isoflavan

2.2.3. Hợp chất khung neoflavan

2.2.4. Hợp chất khung flavanol

2.2.5. Hợp chất khung flavanone

2.2.6. Hợp chất khung isoflavanone

2.2.7. Hợp chất khung flavanonol

Tóm tắt

I. Giới thiệu về loài Sưa Dalbergia tonkinensis

Loài Sưa (Dalbergia tonkinensis) là một trong những loài cây quý hiếm tại Việt Nam, thuộc họ Đậu (Fabaceae). Cây có chiều cao từ 15 đến 25 mét, với đường kính đạt từ 0,5 đến 0,7 mét. Vỏ cây có màu xám hoặc nâu xám, thịt vỏ có màu nâu vàng và có mùi hơi tanh. Cây thường phân cành thấp, tán xòe rộng, và lá kép lông chim mọc cách. Hoa của cây có màu trắng hoặc màu kem, ra hoa vào tháng 3 đến tháng 5, và quả chín vào tháng 9 đến tháng 11. Lõi gỗ của cây Sưa có giá trị kinh tế cao, được sử dụng trong ngành công nghiệp chế biến gỗ và y học. Theo Sách Đỏ Việt Nam, loài này được xếp vào nhóm nguy cấp, cần được bảo tồn.

1.1. Đặc điểm sinh học của loài Sưa

Cây Sưa có đặc điểm sinh học phong phú, với khả năng thích nghi tốt trong môi trường tự nhiên. Cây thường mọc ở các khu vực rừng tự nhiên, đặc biệt là ở các tỉnh miền Bắc như Lạng Sơn, Phú Thọ, và Hà Nội. Sưa có khả năng tái sinh tự nhiên tốt, tuy nhiên, do khai thác quá mức, số lượng cây Sưa trong tự nhiên đang giảm dần. Việc nghiên cứu và bảo tồn loài này là rất cần thiết để duy trì sự đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường.

II. Thành phần hóa học của Sưa Dalbergia tonkinensis

Nghiên cứu về thành phần hóa học của Dalbergia tonkinensis cho thấy loài này chứa nhiều hợp chất quý giá. Các hợp chất chính bao gồm flavonoid, phenol, và các dẫn xuất của coumarin. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng lõi gỗ của cây Sưa chứa nhiều flavonoid như flavone, isoflavone, và neoflavone, cùng với các hợp chất phenolic khác. Những hợp chất này không chỉ có giá trị trong y học mà còn có tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm, và kháng khuẩn. Việc phân lập và xác định cấu trúc của các hợp chất này sẽ giúp mở rộng hiểu biết về giá trị dược liệu của loài Sưa.

2.1. Các hợp chất chính trong Sưa

Các hợp chất flavonoid trong Dalbergia tonkinensis đã được nghiên cứu và xác định cấu trúc. Một số hợp chất tiêu biểu như (2S)-6,7,4′-trihydroxyflavan và (2S)-6,4′-dihydroxy-7-methoxyflavan đã được phân lập từ lõi gỗ. Những hợp chất này có khả năng chống viêm và kháng khuẩn, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong y học. Việc nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học sẽ giúp phát hiện ra nhiều hợp chất mới, từ đó nâng cao giá trị sử dụng của loài cây này.

III. Hoạt tính sinh học của Sưa Dalbergia tonkinensis

Hoạt tính sinh học của Dalbergia tonkinensis đã được nghiên cứu với nhiều kết quả khả quan. Các nghiên cứu cho thấy cao chiết từ cây Sưa có tác dụng kháng khuẩn mạnh mẽ, đặc biệt là đối với các vi khuẩn gây bệnh. Ngoài ra, các hợp chất phân lập từ cây cũng cho thấy khả năng ức chế enzym α-glucosidase, có thể ứng dụng trong điều trị bệnh tiểu đường. Những tác dụng sinh học này mở ra hướng nghiên cứu mới cho việc phát triển các sản phẩm dược phẩm từ loài Sưa.

3.1. Tác dụng kháng khuẩn và ức chế enzym

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cao chiết từ Dalbergia tonkinensis có khả năng ức chế sự phát triển của nhiều loại vi khuẩn, bao gồm cả vi khuẩn gram dương và gram âm. Tác dụng này có thể được giải thích nhờ vào sự hiện diện của các hợp chất phenolic và flavonoid trong cây. Hơn nữa, khả năng ức chế enzym α-glucosidase cho thấy tiềm năng ứng dụng trong điều trị bệnh tiểu đường, giúp kiểm soát lượng đường trong máu. Những kết quả này khẳng định giá trị dược liệu của loài Sưa và cần được nghiên cứu sâu hơn.

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của Sưa Dalbergia tonkinensis

Giá trị của Dalbergia tonkinensis không chỉ nằm ở thành phần hóa học và hoạt tính sinh học mà còn ở giá trị kinh tế và văn hóa. Gỗ của cây Sưa được sử dụng rộng rãi trong ngành chế biến đồ gỗ cao cấp, mang lại giá trị kinh tế lớn cho người dân. Ngoài ra, loài cây này còn có ý nghĩa văn hóa trong nhiều cộng đồng dân tộc, được coi là biểu tượng của sự bền vững và bảo tồn thiên nhiên. Việc bảo tồn và phát triển bền vững loài Sưa là cần thiết để duy trì giá trị này cho các thế hệ tương lai.

4.1. Ứng dụng trong y học và công nghiệp

Sưa không chỉ được sử dụng trong y học cổ truyền mà còn có tiềm năng lớn trong y học hiện đại. Các hợp chất từ cây Sưa có thể được phát triển thành các sản phẩm dược phẩm mới, phục vụ cho việc điều trị nhiều loại bệnh. Trong ngành công nghiệp, gỗ Sưa được ưa chuộng nhờ vào chất lượng cao và tính thẩm mỹ, được sử dụng để sản xuất đồ nội thất và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Việc khai thác bền vững loài cây này sẽ góp phần bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế địa phương.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Việt Nam có diện tích khoảng 330000 km2, trải dài 1650 km qua 15 o vĩ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hai mùa nóng ẩm, độ ẩm tương đối lớn (trên 80%), lượng mưa hàng năm dồi dào (trung bình 1200-2800 mm) [1]. Với đặc thù môi trường thiên nhiên như thế đã tạo ra một hệ thực vật đa dạng phong phú về chủng loại, quanh năm xanh tốt, và có nhiều công dụng phục vụ cuộc sống con người như là lương thực, chế biến đồ dùng nội ngoại thất, làm cảnh, làm thuốc,… Theo số liệu thống kê, hệ thực vật bậc cao Việt Nam có trên 10.000 loài [2], trong đó có khoảng 3.200 loài cây được sử dụng trong y học dân tộc làm thuốc chữa bệnh [3]. Trong hệ thực vật đó thì chi Trắc (Dalbergia) thuộc cây họ Đậu (Fabaceae) là một trong ba chi có số loài đa dạng và phong phú nhất. Theo tìm hiểu qua tri thức bản địa thì rất nhiều loài trong chi này như Trắc hoàng đàn Dalbergia assamica Bent, Trắc lá Dalbergia foliacea Wall.

ex Benth, Cẩm lai một hạt Dalbergia candenatenis, Dalbergia rimosa, Dalbergia sissoo, Dalbergia odorifera., được sử dụng rộng rãi trong y học dân gian ở nhiều quốc gia để chữa nhiều bệnh như: đau đầu, chữa ung nhọt, ho suyễn, gãy xương, phong thấp, chảy máu cam, nhiễm trùng, bệnh giang mai, tiêu chảy, ghẻ, sốt rét, v/v [ 4]. Trong y học cổ truyền, chúng cũng được sử dụng như các thuốc giảm đau, thuốc chống ho, tiêu chảy, chống viêm, chống ung thư, chống vi khuẩn, hạ sốt, chống loét sinh dục, diệt tinh trùng, tim mạch [5, 6]. Lõi gỗ của cây Sưa ở Việt Nam có giá trị kinh tế cao và được cho là có được sử dụng làm thuốc hiệu dụng. Đã có một số nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy lõi gỗ của loài Sưa Hải Nam Dalbergia odorifera được sử dụng để điều trị các bệnh về tim mạch như suy tim, viêm cơ tim, nhồi máu cơ tim và xơ vữa động mạch [7, 8].

Các nghiên cứu hóa học về các loài Dalbergia tập trung là nghiên cứu bộ phận gỗ và lá. Thành phần hóa học của các loài Dalbergia rất đa dạng và phong phú, ngoài lớp chất chính flavonoid như flavone, isoflavone, neoflavone, flavanone isoflavanone, isoflavanone glycosid. Ngoài ra còn có các phenol, phytosterol, sesquiterpen cùng các dẫn xuất của coumestan và coumaronochromone [9-12]. Ngoài ra, các loài Dalbergia còn sở hữu các tác dụng sinh học quý khác như tái tạo xương, 2 làm giãn động mạch vành, chống bệnh than, chống dị ứng, chống androgen, kháng viêm, gây độc tế bào ung thư, chống tia tử ngoại, kháng ký sinh trùng, chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch, diệt muỗi, ức chế enzyme Tyrosinase [12].

Tuy nhiên, cho đến nay loài Sưa ở Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về thực vật học, thành phần hóa học và tác dụng sinh học. Về mặt hóa học chỉ mới có một công trình nghiên cứu sơ bộ trong nước [14, 15]. Từ những cơ sở thực tiễn trên. Nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu loài Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) một cách hệ thống và đầy đủ, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) ở Việt Nam'' Với mục tiêu nghiên cứu cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) về các mặt: thực vật (vi phẫu, trình tự gen), thành phần hóa học và hoạt tính sinh học.

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, luận án đã thực hiện các nội dung sau: 1. Thu mẫu của loài nghiên cứu. Nghiên cứu về thực vật (vi phẫu và trình tự gen) của loài này 3. Nghiên cứu thành phần hóa học của loài Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain): điều chế cặn chiết và phân đoạn, phân lập các hợp chất từ cặn chiết bằng các phương pháp sắc ký.

Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp hóa lý hiện đại. Đánh giá tác dụng sinh học: kháng khuẩn và ức chế enzym -glucosidase của cao chiết tổng, cao chiết phân bố và một số hợp chất sạch phân lập từ cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) ở Việt Nam. KHÁI QUÁT VỀ HỌ ĐẬU (FABACEAE) VÀ CHI TRẮC (DALBERGIA) 1. Khái quát về họ Đậu (Fabaceae) Theo định nghĩa của hệ thống APG (Angiosperm Phylogeny Group) thì họ Đậu (danh pháp khoa học: Fabaceae), từ đồng nghĩa: Leguminosae (hay Fabaceae sensu lato) là một họ trong bộ Đậu.

Đây là họ thực vật có hoa lớn thứ ba, sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng 730 chi và 19.400 loài trên toàn thế giới. Các loài đa dạng tập trung nhiều trong các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân họ Đậu (Faboideae) [16]. Buôn Ma Thuột 1. Khái quát về chi Trắc (Dalbergia) Theo cơ sở dữ liệu The Plant List, tính đến thời điểm 12/2018 chi Trắc (Dalbergia) có đến 647 loài, trong đó 304 loài đã được công nhận.

Ở Việt Nam hiện đã thống kê được khoảng 27 loài [16]. Một số loài thuộc chi này có giá trị cao về gỗ như: Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain), Trắc (Dalbergia cochinchinensis), Hồng sắc Ấn Độ (Dalbergia latifolia) và Cẩm lai (Dalbergia oliveri). Về mặt hình thái Các loài thực vật thuộc chi Trắc (Dalbergia) là các cây có kích thước từ nhỏ đến trung bình, cây gỗ, cây bụi hoặc dây leo thân gỗ. Lá kép lông chim 1 lần lẻ, mọc cách.

Hoa nhỏ, nhiều, có mùi thơm, hoa màu trắng hoặc màu kem, màu tím hoặc đôi khi có màu đỏ, bầu có đế, noãn ít, ngắn, cong, đầu nhụy nhỏ. Quả thuôn dài hình mũi mác, nhẵn, phẳng, lấy hạt. Hạt có hình bầu dục, dẹt và nhẵn, màu nâu sáng, không có phôi nhũ. Rễ phổ biến là mấu nhỏ [17].

4 Về giá trị Nhiều loài được sử dụng rộng rãi trong điều trị các bệnh khác nhau như: bệnh phong, sốt rét, loét miệng, chảy máu cam, chảy máu nhiều, tiêu chảy, khó tiêu, xuất huyết, bệnh thấp khớp, ghẻ lở, đau dạ dày, chấn thương, tăng chức năng của thận, làm khai thông kinh mạch huyệt đạo, chống lão hóa, bệnh lậu, bệnh giang mai. Một số loài được trồng vì mục đích thương mại, gỗ của chúng được sử dụng trong các ngành công nghiệp đồ nội thất và ngoài ra chúng còn có mùi thơm. Sản phẩm từ gỗ chi Trắc (Dalbergia) Sự phân bố Chi Dalbergia gồm nhiều loài phân bố chủ yếu ở Châu Á như vùng Đông Nam Á, Tây Á, Nam Á và một phần ở Đông Bắc Á, ở Châu Mĩ, Châu Phi và một số khu vực khác trên thế giới. Cụ thể, chúng phân bố nhiều ở các quốc gia: Indonesia, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Myanmar, Brunei, Malaysia, Lào, Thái Lan, Singapore, Sri Lanka, Brazil, Mexico, Madagascar, Costa Rica, Bolivia, Guatemala, Mexico và Panama, Malawi, Mozambique, Tanzania, Zambia và Zimbabwe, Venezuela, Argentina, Ethiopia, Bờ Biển Ngà, Kenya, v/v [18].

Tổng quan về loài Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) Được đặt tên bởi Prain, 1901. Tên khoa học (Dalbergia tonkinensis Prain). Tên thường gọi là Sưa, Sưa trắng, Trắc bắc bộ, Trắc thối, Huỳnh đàn [17]. Về mặt hình thái Cây gỗ trung bình hay lớn, cao 15-25 m, đường kính đạt 0,5-0,7 m.

Vỏ màu xám hay nâu xám, thịt vỏ nâu vàng, có mùi hơi tanh. Cây phân cành thấp, tán xòe rộng. Cành dài và mảnh, khi non màu xanh, sau chuyển xám xanh. Lá kép lông chim 5 một lần lẻ, mọc cách, mang 7-17 lá chét hình trứng hay bầu dục, gốc tròn, đầu có mũi nhọn ngắn, mặt trên xanh thẫm, dưới xanh nhạt, khi non màu xanh lá mạ, dài 4-5 cm, rộng 2,5-3 cm.

Lá kép dài 15-30 cm, cuống chính màu xanh, gốc cuống hơi phình. Cây rụng lá vào mùa đông, già chuyển màu vàng, mép lá hơi cong về phía dưới. Cụm hoa là xim dạng chùy ở nách lá. Đài hoa hình chuông có 5 cánh xẻ thành 2 môi, đài màu xanh.

Tràng hoa 5 cánh, có móng dài màu trắng. Nhị 10 hợp thành 2 bó. Ra hoa tháng 3-5, có quả tháng 9-11. Quả dẹt thuôn dài 5-7 cm, rộng 2-2,5 cm, bầu quả gần tròn, mỗi quả mang 1-2 hạt tròn dẹt nổi lên bề mặt vỏ quả.

Gỗ thớ mịn, màu sắc đỏ nâu hoặc lâu tím, vân đen bốn mặt (màu sắc rất ảo diệu), cứng, thơm, không bị mối mọt [17, 19]. Một phần lõi gỗ, rễ và lá loài Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) thu ở Tp.BMT Giá trị khoa học và bảo tồn Đây là loài hiếm gặp trong rừng tự nhiên, được xếp vào nhóm sẽ nguy cấp (V) theo Sách Đỏ Việt Nam (năm 1996). Được xếp vào nhóm IA, theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP thực vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại [19]. Phân bố Ở Việt Nam: cây Sưa phân bố chủ yếu ở Lạng Sơn, Phú Thọ, Hà Nội, Quảng Bình, Nghệ An, Đắk Lắk [20].

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CHI TRẮC (DALBERGIA) TRÊN THẾ GIỚI Tính đến thời điểm này, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và xác định thành phần hóa học của nhiều loài thuộc chi Trắc (Dalbergia) như: Dalbergia 6 oliveri, Dalbergia parvifolia, Dalbergia sisso, Dalbergia volubilis, Dalbergia frutescens, Dalbergia odorifera, v/v. Trong số đó thì loài Dalbergia lanceolaria (Pakistan và Bangladesh) được nghiên cứu đầu tiên vào năm 1967 bởi Malhotra và cộng sự, đã phân lập được hợp chất lanceolarin từ rễ loài này. Có khoảng 17 loài đã được nghiên cứu về hóa học (đã tìm thấy 235 hợp chất, trong đó có 40 chất mới từ các loài thuộc chi này). Trong số đó loài Dalbergia odorifera (Trung Quốc) và loài Dalbergia parviflora (Ấn Độ) được nghiên cứu nhiều nhất, bộ phận được nghiên cứu nhiều nhất là lõi gỗ.

Hầu hết đại đa số các hợp chất được tách ra từ chi Dalbergia là các hợp chất phenolic. Đặc biệt đại đa số các hợp chất phenolic đó thì phần lớn ở dạng khung flavonoid (lớp chất chính, khoảng 142 chất thuộc lớp chất này đã được tách ra), bao gồm nhiều loại khung đặc trưng như: isoflavone, isoflavanone, flavanone, isoflavan, flavan, chalcon, uron. Ngoài ra còn có một số các lớp chất phenolic khác như: diary propanoid, dẫn xuất coumarin và lignan. Sau đây là bảng chúng tôi đã thống kê lại các loài trong chi Trắc (Dalbergia) trên thế đã được nghiên cứu về thành phần hóa học tính đến 12/2018 (bảng 1.

Các loài đã được nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Trắc (Dalbergia) trên thế giới (bao gồm tên loài, bộ phận và vùng lấy mẫu) Stt Tên loài Bộ phận Vùng lấy mẫu TLTK 1 D. oliveri Vỏ East Indies [21, 22] 2 D. volubilis Hoa Bangladesh [23] 3 D. retusa Lõi gỗ Costa Rica [24] 4 D.

odorifera Lõi gỗ China [12, 25, 26, 27, 28, 29] 5 D. Chen Rễ, lõi gỗ China [31, 32] 8 D. frutescens Vỏ thân Argentina [33] Bangladesh and 9 D. cultrata Vỏ India, Thai Lan [12,35] 11 D.

nigrescens Vỏ India, Thai Lan [12, 35] 7 12 D. louveliti Lõi gỗ Madagascar [36] 13 D. congestiflora Lõi gỗ Mexico [37] 14 D. candenatensis Lõi gỗ Indonesia [38] 15 D.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án mang tiêu đề "Luận án về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài sưa Dalbergia tonkinensis ở Việt Nam" tập trung vào việc nghiên cứu các thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài cây sưa, một loại cây quý hiếm tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về giá trị dược liệu của loài cây này mà còn mở ra cơ hội ứng dụng trong y học và công nghiệp. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các hợp chất có trong cây sưa và tiềm năng của chúng trong việc phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến hoạt tính sinh học và hóa học, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học của hợp chất tử vi nấm biển tại miền Trung Việt Nam", nơi nghiên cứu về các hợp chất sinh học từ nấm biển. Bên cạnh đó, bài viết "Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học và hóa học của hợp chất từ nấm biển tại miền Trung Việt Nam" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về hoạt tính sinh học của các hợp chất tự nhiên. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu và trích ly phenolic từ củ riềng Alpina galanga Willd" sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết về các thành phần hóa học và hoạt tính sinh học trong các loại thực vật khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nghiên cứu hóa học và sinh học.