Chương 1. Tổng quan về chi Hexagonia 1. Đặc điểm hình thái, phân bố Hiện nay, theo Index Fungorum ghi nhận sự tồn tại của 41 loài nấm thuộc chi Hexagonia [36], [57]. Đặc điểm của chi Hexagonia thường mọc trên cây thân gỗ, không cuống, chia đôi, hình bán nguyệt, luôn dai, bề mặt thường trơn tru; thân nấm thường mỏng, có ba màu chủ đạo: màu nâu, tối, hoặc vàng; lỗ chân lông lục giác lớn, thường có một màu sắc nhẹ hơn; bào tử trong suốt, hình trụ, dài hơn 12 µm, mịn, mỏng, và có các bào tử ngắn hơn loài Coriolopsis [8].
Phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi, một số loài ở Châu Âu. Ở Châu Á gặp ở Trung Quốc, Việt Nam, Philippin. Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học Số lượng các công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Hexagonia còn chưa nhiều. Mặc dù, hoạt tính sinh học của các loài trong chi này cũng rất đáng quan tâm khi chúng thể hiện một loạt các hoạt tính sinh học như khả năng chống oxy hóa, kháng nấm, kháng khuẩn, kháng khối u,.
Trong các năm 2009-2011, loài nấm H. speciosa là loài đầu tiên được tiến hành nghiên cứu thành phần hóa học bởi nhóm Jiang M. và cộng sự, đã phân lập từ dịch chiết ethyl acetate được 21 hợp chất cyclohexanoid từ loài này. Chúng có hoạt tính chống oxy hóa cao, hoạt tính kháng khối u bao gồm speciosin A-T, 5’-O- acetylaporpinon A và aporpinon A [46; 47].
Khi nghiên cứu thành phần hóa học của quả thể nấm H. tenuis năm 2014, nhóm nghiên cứu Akemi Umeyama đã phân lập được 3 hợp chất triterpenoid là hexatenuin A-C. Các hợp chất này có hoạt tính chống ung thư [113]. Ở Việt Nam, công trình luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Bích Ngọc (2015) đã báo cáo về thành phần dịch chiết quả thể nấm H.
apiaria gồm có 7 hợp chất triterpenoid hexagonin A-E, hexatenuin A, ursolic acid và hai hợp chất sterol phổ biến trong các loài nấm là ergosterol, ergosterol peroxide. Các hợp chất này đều có khả năng kháng viêm [5; 110]. Như vậy cho đến nay, mới chỉ có ba loài nấm H. apiaria được nghiên cứu thành phần hóa học cho thấy các hợp chất phân lập được chủ luan an 6 yếu là cyclohexanoid, triterpenoid và steroid.
Chúng có hoạt tính sinh học chủ yếu là chống oxi hóa, kháng u và kháng viêm. Nấm Hexagonia tenuis 1. Đặc điểm hình thái, phân bố Họ: Polyporaceae Chi: Hexagonia Fr. Tên khoa học: Hexagonia tenuis (Hook.
tenuis mặt trước và sau Mũ nấm tròn hoặc hình bán nguyệt, bề mặt hơi lõm, có các vòng đồng tâm, tạo thành rãnh, màu vàng. Nấm một năm, mọc đơn, không có cuống. Lỗ chân lông lục giác, màu vàng nâu khi già có màu xám nâu, thường lớn hơn ở trung tâm. Mọc trên các loài gỗ rụng lá, gây chết cây chủ [8].
Phân bố: Châu Á và một số đảo ở Thái Bình Dương và Úc [23; 58]. Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học Công trình đầu tiên về thành phần hóa học của loài nấm H. tenuis do Akemi M. và cộng sự thực hiện vào năm 2014, cho thấy sự hiện diện của 3 hợp chất antitrypanosomal là hexatenuin A-C.
Các hợp chất này biểu hiện khả năng chống ung thư, đây là tiềm năng để phát triển dược liệu từ sản phẩm thiên nhiên [113].1 Các hợp chất và hoạt tính sinh học của loài nấm H. tenuis TT Hợp chất Hoạt tính TLTK 1 Hexatenuin A [113] 2 Hexatenuin B Chống ung thư [113] 3 Hexatenuin C [113] luan an 7 1. Tổng quan về chi Phellinus 1. Đặc điểm hình thái, phân bố.
Giới thiệu chi Phellinus Họ: Hymenochaetaceae Chi: Phellinus Cho đến nay, trên thế giới đã tìm thấy 41 chi thuộc họ Hymenochaetaceae và 138 loài nấm thuộc chi Phellinus [16]. Một số loài nấm Phellinus đã được sử dụng trong các bài thuốc cổ truyền ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung và Bắc Mỹ. Nhiều loài thuộc chi Phellinus đã được nghiên cứu và sử dụng làm thuốc chữa bệnh điển hình như: P. Chi Phellinus phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới châu Mỹ, châu Phi và Đông Á [3; 8].
Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học Theo các nghiên cứu của các nhà khoa học trên toàn thế giới, hiện nay có khoảng 12 loài (P. baumii) được nghiên cứu về thành phần hóa học. Các hợp chất được tìm thấy chủ yếu của các loài nấm thuộc chi Phellinus là các hợp chất steroid, terpenoid, flavonoid, polysaccharide và protein-polysaccharide, styrylpyrone, furane và polychlorinate. Steroid Theo các tài liệu nghiên cứu về các loài nấm thuộc chi Phellinus cho thấy thành phần hóa học của chúng có nhiều hợp chất steroid.
Năm 1969, Efimenko đầu tiên công bố phân lập được ergosterol từ P. Trong các nghiên cứu tiếp theo về thành phần hóa học của các loài trong chi này cũng cho thấy cấu trúc khung của các steroid chủ yếu là ergostane và pregnane. Năm 2006, phellinol được nhóm nghiên cứu của Đặng Ngọc Quang phân lập từ một loài thuộc chi Phellinus, cùng với senexonol và ergosta-4,6,8(14),22-tetraen-3-one [97]. Năm 2007, các steroid tiếp tục được phân lập và xác định cấu trúc từ loài P.
linteus bao gồm episterol, dehydroperoxide ergosterol, ergosterol peroxide, 6-O- luan an 8 methyl cerevisterol [86]. Năm 2009, 5α-ergosta-7,22-dien-3-one được công bố phân lập từ loài P. gilvus bởi Liu và các cộng sự [80]. Năm 2010-2015, sáu hợp chất steroid là thành phần hóa học của loài P.
igniarius bao gồm 3R,4S,5S,17R,20R-3,17,20-trihydroxy-4-methylpregn-8-en-7-one và ba dẫn xuất của heptanorergosterane phellinignincisterol A-B, 3α,17α,19,20- tetrahydroxy-4α-methylpregn-8-ene và 3α,12α,17α,20-tetrahydroxy-4α-methylpregn- 8-ene [120; 124]. Năm 2016, Liu tiếp tục phân lập được năm steroid là (22E,24R)-ergosta-5,7,22- trien-3β-ol, (22E,24R)-5α,6α-epoxyergosta-8-(14),22-dien-3β,7α-diol, (22E,24R)- 5α,6α-epoxyergosta-8,22-dien-3β,7α-diol, (22E,24R)-ergosta-7,22-dien-3β,5α,6β-triol, (22E,24R)-3β,5α,9α-trihydroxyergosta-7,22-dien-6-one từ loài P. Các hợp chất steroid và hoạt tính sinh học của các loài nấm thuộc chi Phellinus TT Hợp chất Nguồn nấm Hoạt tính TLTK 1 Phellinol [97] 2 Senexonol [97] Phellinus sp. linteus 6 Ergosterol peroxide [86] 7 6-O-methyl cerevisterol [86] 5α-ergosta-7,22-dien-3- 8 P.
gilvus [80] one 9 3R,4S,5S,17R,20R- [120] 3,17,20-trihydroxy-4- methylpregn-8-en-7-one P. rhabarbarinus dien-3β,7α-diol (22E,24R)-ergosta- 18 7,22-dien- [25] 3β,5α,6β-triol (22E,24R)-3β,5α,9α- 19 trihydroxyergosta-7,22- [25] dien-6-one 20 Ergosta-7,22-dien-3-ol [4] 21 Ergosterol P. pini [4; 24] 22 Ergosterol peroxide [4] 23 Ergosta-4,6,8(14),22- [42] tetraen-3-one P. adamantinus 24 Ergosta-4,7,22-triene- [42] 3,6-dione luan an 10 25 Ergosterol peroxide Gây độc tế bào ung thư cơ vân, kháng vi khuẩn [42] tụ cầu vàng Staphylococcus aureus 26 Cerevisterol [42] Trong nghiên cứu của nhóm Nguyễn Ngọc Tuấn đã xác định được 3 hợp chất steroid là ergosta-7,22-dien-3-ol, ergosterol và ergosterol peroxide từ loài P.
Ở Việt Nam, 4 hợp chất steroid: ergosta-4,6,8(14),22-tetraen-3-one, ergosta- 4,7,22-trien-3,6-dione, ergosterol peroxide, cerevisterol (ergosta-7,22E-dien-3β,5α,6β- triol) được tìm thấy lần đầu tiên từ P. adamantinus tại vườn quốc gia Cúc Phương do nhóm nghiên cứu Lê Mai Hương và cộng sự đã phân lập [42]. Như vậy, cho đến nay có khoảng hơn 26 hợp chất steroid được xác định phân lập từ các loài thuộc chi Phellinus (P. Terpenoid Sesquiterpenoid, diterpenoid và triterpenoid là các lớp chất terpenoid phân lập chủ yếu từ chi Phellinus.
Năm 1986, javeroic acid và phellinic acid được công bố tồn tại trong loài P. Ngoài ra, Gonzalez cũng đã phân lập được pomacerone (23,26-dioxo-lanosta-8(9),23,25-trien-3,22-dione) là một furanoid triterpene [33]. Khung tramulen là dạng khung chủ yếu thu được khi nghiên cứu thành phần hóa học của P. igniarius, 9 hợp chất khung tramulene đã được công bố bao gồm (+)- (3S,6S,7S,10S)-tremulene-10,11,12-triol, (+)-(2S,3R,6S,7S)-tremul-1(10)-ene-2,12- diol, (+)-(3S,6R,7R)-tremulene-6,11,12-triol, (+)-(1R,6S,7S)-tremul-2-ene-12(11)- lactone), (+)-(3S,6R,7R,10S)-tremulene-6,10,12-triol, (-)-(2S,3S,6S,7S,9S)-tremul- 1(10)-ene-11,12,15-triol, (-)-(2S,3S,6S,7S,9R)-tremul-1(10)-ene-11,12,14-triol, (-)- luan an 11 (2R,3S,6S,7S,9R)-tremul-1(10)-ene-11,12,14-triol, (-)-(2S,3S,4S,6S,7S)-tremul-1(10)- ene- 4,11,12-triol [120].
Năm 1993, Ayer và cộng sự đã công bố phân lập một nhóm các tremulane thuộc lớp chất sesquiterpenoid bao gồm tremulenolide A, tremulenolide B, tremulenedial, tremulenedial dibenzyl acetal, tremulenediol A và B, tremulenediol C, tremuladienol mới từ P. Năm 2014, các hợp chất tremulane sesquiterpene của chi Phellinus tiếp tục được Yin và cộng sự công bố khi phân lập được 5 hợp chất 6,11,12- trihydroxytremul-1(10)-ene, 11,12-dihydroxyl-7-peroxy-hydroxyl-tremul-1(10)-ene, 6,12-dihydroxytremulene, 10,12-dihydroxy-tremulene và 12,15-dihydroxy- tremulene [123]. Điều này chứng tỏ các hợp chất tremulane sesquiterpene đặc trưng cho các loài Phellinus. Ngoài ra, các hợp chất sesquiterpenoid có cấu trúc khung drimane như phellinuin A-G tiếp tục được Liu và cộng sự phân lập được từ P.
tuberculosis, cho thấy loại khung này cũng là thành phần chủ yếu của Phellinus [37]. Sự đa dạng cấu trúc khung của hợp chất sesquiterpenoid trong thành phần của Phellinus còn được thể hiện thông qua việc phân lập được các hợp chất khác như: 12- hydroxy-α-cadinol, 3α,12-dihydroxy-δ-cadinol, 3α,6α-dihydroxyspiroax-4-ene, eudesm-1β,6α,11-triol từ P. igniarius [104; 124], và phellinuin J, sulphureuine A từ P. Trong thành phần của nấm Phellinus, các sesquiterpenoid mạch thẳng cũng được tìm thấy như phellinuin H, phellinuin I; 3,7,11-trimethyldodeca-1,10- dien-3,6,7-triol; 3,7,11-trimethyldodeca-2,10-dien-1,6,7-triol; 2,3,6,7,10,11-pentaol, 3,7-dimethyl-6-octen-1,2,3-triol; 3,7-dimethylocta-1,6-dien-3,8-diol [39].
8,14- labdadien-13-ol và dehydroabietic acid đã được phân lập từ quả thể của P. Ngoài ra, các hợp chất sesquiterpenoid là 3,11,12-trihydroxydrimene, 11,12,13α- trihydroxydrimene, 11,12-O-isopropyldrimene cũng đã được phân lập từ loài P. Năm 2016, các hợp chất phellibarin A-C đã được Feng và cộng sự phân lập thành công từ quả thể nấm P. Cấu trúc khung lanostane cũng được tìm thầy bởi Wang và cộng sự khi nghiên cứu thành phần của P.
iginarius, đã phân lập được igniaren A-D [115]. Các lanostane-triterpenoid được phân lập từ P. gilvus bao gồm các gilvsin A–D [80]. Ba triterpenoid bao gồm natalic, torulosic, albertic acid và các dẫn xuất methyl hóa của chúng đã được phân lập từ loài nấm P.
luan an 12 Trong nghiên cứu của nhóm Nguyễn Ngọc Tuấn đã xác định được 2 hợp chất triterpenoid là gilvsin A và gilvsin B. Hai triterpenoid này lần đầu tiên phân lập được từ loài nấm P. Năm 2018, Nguyễn Tân Thành và cộng sự đã phân lập được một triterpenoid đặt tên là igniarine từ dịch chiết methanol của quả thể nấm P.3 Hợp chất terpenoid được phân lập từ Phellinus TT Hợp chất Nguồn nấm Hoạt tính TLTK Sesquiterpenoid (+)-(3S,6R,7R)-Tremulene- 1 [120] 6,11,12-triol (+)-(3S,6S,7S,10S)-Tremulene- 2 [120] 10,11,12-triol (+)-(3S,6R,7R,10S)-Tremulene- 3 [120] 6,10,12-triol (-)-(2S,3S,6S,7S,9R)-Tremul- 4 [120] 1(10)-ene-11,12,14-triol (-)-(2S,3S,6S,7S,9S)-Tremul- 5 [120] 1(10)-ene-11,12,15-triol (-)-(2R,3S,6S,7S,9R)-Tremul- 6 [120] 1(10)-ene-11,12,14-triol P. igniarius (-)-(2S,3S,4S,6S,7S)-Tremul- 7 [120] 1(10)-ene-4,11,12-triol (+)-(2S,3R,6S,7S)-Tremul-1(10)- 8 [120] ene-2,12-diol (+)-(1R,6S,7S)-Tremul-2-ene- 9 [120] 12(11)-lactone luan an 13 6b,11,12-trihydroxy-tremul- 10 [123] 1(10)-ene 11,12-dihydroxyl-7b-peroxy- 11 [123] hydroxyl-tremul-1(10)-ene 12 6b,12-dihydroxy-tremulene Chống co [123] thắt mạch 13 10b,12-dihydroxy-tremulene.
tuberculosus [37] 34 Phellinuin E [37] 35 Phellinuin G [37] 36 3β,11,12-trihydroxydrimene [37] 37 12-hydroxy-α-cadinol Chống co [124] thắt mạch 38 3α,12-dihydroxy-δ-cadinol P. tuberculosus 42 Sulphureuine A [40] 43 Phellinuin H [39] 44 Phellinuin I [39] 3,7,11-trimethyldodeca-1,10- Phellinus sp. pini 52 Dehydroabietic acid [45] Triterpenoid 53 Igniarine P. igniarius [111] 58 Phellibarin A [25] 59 Phellibarin B kháng NO [25] kháng NO/ 60 Phellibarin C Kháng ung [25] thư Kháng ung 61 Igniaren D [25] thư 24-methylenelanost-8- ene- P.
igniarius ức chế NO 76 Igniarens D [115] 77 Gilvsin C [115] 78 Gilvsin A [115] 81 Javeroic acid [32] P. pomaceus 82 Phellinic acid [32] 23.26-dioxo-lanosta-8(9),23,25- 83 [33] trien-3. gilvus 86 Gilvsins C huyết yếu [80] 87 Gilvsins D [80] 88 Natalic [34] 89 Torulosic [34] 90 Albertic acid P. Flavonoid Năm hợp chất flavonoid được phân lập từ P.
igniarius bao gồm naringenin, sakuranetin, aromadendrin, folerogenin và eriodictyo [91]. Hai hợp chất flavonoid là phelligrin A và B cũng đã được phân lập từ loài P. Hợp chất flavonoid được phân lập từ Phellinus TT Hợp chất Nguồn nấm TLTK 1 Naringenin [91] 2 Sakuranetin [91] 3 Aromadendrin [91] 4 Folerogenin P.