Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm Hexagonia tenuis, Phellinus gilvus, Phellinus baumii và Ganoderma australe ở vùng Bắc Trung Bộ" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đỗ Xuân Hưng, thuộc chuyên ngành Hóa hữu cơ (mã số: 9440114) tại Trường Đại học Vinh vào năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Ngọc Quang và TS. Trần Đình Thắng.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ tiềm năng dược liệu to lớn của giới nấm. Nấm là sinh vật nhân thực (Eukaryote), không có diệp lục, chứa hàm lượng protein, vitamin (B, C, D, K), khoáng chất (kali, photpho), nguyên tố vi lượng (selen) cao cùng nhiều hợp chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học như kháng sinh, kháng u, điều hòa miễn dịch. Tại Việt Nam, điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa tạo môi trường thuận lợi cho sự sinh trưởng của khoảng 22.000 loài nấm, trong đó có ít nhất 651 loài thuộc 182 chi đã được ghi nhận chứa các hoạt chất sinh học. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu trong nước trước đây chỉ tập trung vào phân loại hình thái và tính đa dạng sinh học, còn các nghiên cứu chuyên sâu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học phân tử của các loài nấm lớn ở khu vực Bắc Trung Bộ vẫn còn nhiều khoảng trống.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể theo 4 nội dung chính:

  1. Chiết xuất hỗn hợp các hợp chất từ quả thể bốn loài nấm: Hexagonia tenuis, Phellinus gilvus, Phellinus baumii và Ganoderma australe.
  2. Sử dụng các phương pháp sắc ký thích hợp để phân lập các hợp chất sạch từ các phân đoạn dịch chiết của bốn loài nấm trên.
  3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp phổ hiện đại.
  4. Thử nghiệm hoạt tính sinh học (kháng vi sinh vật kiểm định và gây độc trên các dòng tế bào ung thư) của các hợp chất tinh khiết và cao chiết thu được.

Đối tượng nghiên cứu là mẫu quả thể của bốn loài nấm Hexagonia tenuis, Phellinus gilvus, Phellinus baumii và Ganoderma australe. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại khu vực Bắc Trung Bộ (chủ yếu thu thập tại Vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An). Phạm vi thời gian thu mẫu thực nghiệm diễn ra trong các năm 2016 và 2017, hoàn thành và bảo vệ luận án vào tháng 10 năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến 4 chi nấm chính:

  • Chi Hexagonia và loài Hexagonia tenuis: Index Fungorum ghi nhận 41 loài thuộc chi này. Các nghiên cứu hóa học về chi Hexagonia còn rất hạn chế. Điển hình có nhóm Jiang M. và cộng sự (2009–2011) nghiên cứu loài H. speciosa, phân lập được 21 hợp chất cyclohexanoid (speciosin A–T, aporpinon A, 5'-O-acetylaporpinon A) có hoạt tính chống oxy hóa và kháng khối u. Năm 2014, nhóm Akemi Umeyama công bố 3 hợp chất triterpenoid khung antitrypanosomal là hexatenuin A–C từ H. tenuis. Tại Việt Nam, năm 2015, Nguyễn Thị Bích Ngọc nghiên cứu H. apiaria, phân lập 7 triterpenoid (hexagonin A–E, hexatenuin A, ursolic acid) cùng 2 sterol (ergosterol, ergosterol peroxide) có khả năng kháng viêm.
  • Chi Phellinus và các loài P. gilvus, P. baumii: Chi Phellinus gồm khoảng 138 loài thuộc họ Hymenochaetaceae, trong đó khoảng 12 loài đã được khảo sát thành phần hóa học. Các nhóm chất chính gồm steroid, terpenoid (sesquiterpenoid khung tremulane, drimane; triterpenoid khung lanostane), flavonoid, styrylpyrone, furane và hợp chất polychlorinate.
    • Về steroid: Efimenko (1969) phân lập ergosterol từ Phellinus; Đặng Ngọc Quang và cộng sự (2006) phân lập phellinol, senexonol từ Phellinus sp.; Liu và cộng sự (2009, 2016) phân lập các steroid từ P. gilvus và P. rhabarbarinus; tại Việt Nam, Lê Mai Hương và cộng sự phân lập 4 steroid từ P. adamantinus tại VQG Cúc Phương, Nguyễn Ngọc Tuấn phân lập các steroid từ P. pini.
    • Về terpenoid: Ayer và cộng sự (1993), Yin và cộng sự (2014) công bố các dẫn xuất tremulane sesquiterpene từ Phellinus; Feng và cộng sự (2016) phân lập phellibarin A–C; Wang và cộng sự phân lập igniaren A–D từ P. igniarius; Nguyễn Tân Thành và cộng sự (2018) phân lập igniarine từ P. igniarius.
    • Về Phellinus baumii: Lee I. và cộng sự phân lập các styrylpyrone (baumin, davallialactone, hispidin, hypholomine B, interfungin A, inoscavin A, phelligridin D); Wu C. và cộng sự (2011) phân lập hispidin, phellibaumin A–E và các dẫn xuất benzyl dihydroflavone có hoạt tính ức chế NF-κB.
    • Về Phellinus gilvus: Liu và cộng sự (2009) phân lập các dẫn xuất lanostane-triterpenoid (gilvsin A–D, trametanolic acid).
  • Chi Ganoderma và loài Ganoderma australe: Toàn chi có hơn 400 hợp chất được ghi nhận (chủ yếu là triterpenoid khung lanostane và polysaccharide). Đối với loài Ganoderma australe (Cổ linh chi), số lượng công trình nghiên cứu trên thế giới còn ít (khoảng 11 công trình giai đoạn 1984–2019): nghiên cứu tại Ấn Độ (1984) phân lập 3 steroid và 1 triterpenoid lanostane; nghiên cứu năm 2000 phân lập applanoxidic acid A, C, F, G, H; nghiên cứu năm 2019 phân lập cyclic dipeptide và các dẫn xuất phenolic có hoạt tính chống oxy hóa và ức chế α-glucosidase.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình nghiên cứu có tính hệ thống đầu tiên tại Việt Nam giải quyết khoảng trống về thành phần hóa học phân lập được từ quả thể bốn loài nấm Hexagonia tenuis, Phellinus gilvus, Phellinus baumii và Ganoderma australe thu hái tại khu vực Bắc Trung Bộ, đồng thời đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư và kháng vi sinh vật kiểm định của các hợp chất này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết hóa học các hợp chất thiên nhiên (Natural Products Chemistry), tập trung vào các nhóm chất chuyển hóa thứ cấp: triterpenoid, steroid, polyphenol, styrylpyrone và dẫn xuất clo hữu cơ.

Quy trình thực nghiệm và các phương pháp nghiên cứu được triển khai gồm:

  1. Thu thập và xử lý mẫu thực vật: Mẫu quả thể nấm được thu hái tại Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An), được PGS. TS. Ngô Anh (Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế) giám định tên khoa học. Mẫu tiêu bản được lưu giữ tại Viện Công nghệ Hóa, Sinh, Môi trường - Trường Đại học Vinh. Quả thể được phơi khô, sấy, nghiền mịn trước khi chiết xuất.
  2. Chiết xuất và phân lập:
    • Chiết xuất: Ngâm chiết hồi lưu hoặc ngâm chiết kết hợp hỗ trợ của sóng siêu âm với dung môi methanol kỹ thuật ở nhiệt độ phòng.
    • Phân bố lỏng - lỏng: Phân tán cao tổng methanol trong nước, chiết phân bố lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần (n-hexane, ethyl acetate, chloroform, n-butanol).
    • Kỹ thuật phân lập: Sắc ký lớp mỏng phân tích (TLC) trên bản mỏng tráng sẵn silica gel DC-Alufolien 60 F254 và RP18 F254s; sắc ký cột cổ điển (CC) và sắc ký cột nhanh (FC) với chất hấp phụ silica gel pha thường và pha đảo; sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) phân tích và điều chế trên hệ thống Agilent sử dụng đầu dò UV-Vis; phương pháp kết tinh lại.
  3. Khảo sát cấu trúc hóa học:
    • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR): Đo trên máy Bruker 500 MHz (ghi phổ 1D gồm $^1\text{H}$-NMR, $^{13}\text{C}$-NMR, DEPT và 2D gồm $^1\text{H}$-$^1\text{H}$ COSY, HSQC, HMBC, NOESY) với chất nội chuẩn tetramethylsilane (TMS).
    • Phổ khối lượng (MS): Đo phổ ESI-MS trên máy Bruker Daltonics APEX II 30eV và HR-ESI-MS trên máy microTOF-QII 10187.
    • Phổ hồng ngoại (FT-IR): Ghi trên máy Bruker Optics VERTEX 80.
    • Phổ tử ngoại (UV-Vis): Ghi trên máy Agilent UV-Vis.
    • Sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS), nhiễu xạ tia X (X-ray), đo điểm nóng chảy trên máy Yanagimoto MP-S3 và đo năng suất quay cực trên máy Jasco P-1020.
  4. Phương pháp thử nghiệm hoạt tính sinh học:
    • Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định: Sử dụng phương pháp pha loãng trên môi trường lỏng trong đĩa 96 giếng nhằm xác định giá trị $\text{IC}_{50}$ đối với 7 chủng vi sinh vật chuẩn: 3 chủng vi khuẩn Gram (+) (Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus, Lactobacillus fermentum), 3 chủng vi khuẩn Gram (–) (Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella enterica) và 1 chủng nấm men (Candida albicans). Đo độ đục trên máy quang phổ TECAN. Thuốc đối chứng dương gồm Cefotaxim và Nystatin.
    • Hoạt tính gây độc tế bào ung thư in vitro: Thực hiện theo quy trình chuẩn của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (NCI) bằng phép thử MTT trên các dòng tế bào: KB (ung thư biểu mô), SK-LU-1 (ung thư phổi), HepG2 (ung thư gan), Hep3B (ung thư gan), SW480 (ung thư ruột kết) và MCF-7 (ung thư vú) từ nguồn ATCC. Mật độ quang OD đo ở bước sóng 540 nm bằng máy quang phổ Genios TECAN.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có tổng dung lượng 115 trang, bao gồm 30 bảng số liệu, 49 hình ảnh, 4 sơ đồ và 129 tài liệu tham khảo, cùng phần phụ lục 90 trang phổ cấu trúc.

Kết cấu phân bổ các chương của luận án:

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 tổng thuật đầy đủ các đặc điểm hình thái học, phân bố sinh thái, thành phần hóa học và hoạt tính sinh học đã được công bố trên thế giới và tại Việt Nam của bốn chi nấm và bốn loài nghiên cứu:

  • Chi Hexagonia và loài Hexagonia tenuis: Trình bày đặc điểm quả thể hình quạt hoặc bán nguyệt, lỗ chân lông hình lục giác, mọc trên gỗ mục; tổng hợp các hợp chất cyclohexanoid và triterpenoid đã biết.
  • Chi Phellinus cùng hai loài Phellinus gilvus và Phellinus baumii: Phân tích cấu trúc các nhóm hoạt chất đặc trưng như steroid khung ergostane/pregnane, sesquiterpenoid khung tremulane/drimane, triterpenoid lanostane, flavonoid và nhóm styrylpyrone có tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm, ức chế NF-κB và chống khối u.
  • Chi Ganoderma và loài Ganoderma australe: Tổng kết đặc tính của nấm Cổ linh chi hóa gỗ sống lâu năm, các nhóm hợp chất lanostane triterpenoid (ganoderic acid, applanoxidic acid) và steroid.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thu thập mẫu nấm tại VQG Pù Mát, quy trình ngâm chiết dung môi và sơ đồ phân lập từng hợp chất:

  • Hexagonia tenuis: Bột nấm khô được chiết với methanol, tạo các phân đoạn cao n-butanol (57 g), dịch nước (90 g) và cao ethyl acetate (82 g). Sắc ký cột phân đoạn cao ethyl acetate với hệ dung môi chloroform/methanol và n-hexane/ethyl acetate, n-hexane/acetone phân lập được 5 hợp chất tinh khiết (kí hiệu HTM1–HTM5).
  • Phellinus gilvus: 2,0 kg bột khô ngâm chiết methanol (3 lần, mỗi lần 10 L) kết hợp rung siêu âm 2 giờ, thu 93,0 g cao tổng methanol. Chiết phân bố lỏng - lỏng thu 7,8 g cao n-hexane, 19,2 g cao ethyl acetate, 26,3 g cao chloroform và 28,1 g dịch nước. Sắc ký cột và HPLC điều chế phân đoạn cao ethyl acetate phân lập được 5 hợp chất (kí hiệu PGE1–PGE5).
  • Phellinus baumii: 3,0 kg bột nấm khô ngâm chiết methanol 5 lần, thu 99,5 g cao tổng. Chiết phân bố lỏng - lỏng và sắc ký cột cao ethyl acetate phân lập được 5 hợp chất (kí hiệu PBE1–PBE5).
  • Ganoderma australe: Tiến hành chiết xuất và phân lập từ cao ethyl acetate, thu được các hợp chất kí hiệu GAM1–GAM6.
  • Thiết lập thông số đo phổ NMR, MS, IR, UV và quy trình chi tiết thử nghiệm kháng vi sinh vật kiểm định và thử độc tính tế bào ung thư.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 là phần trọng tâm của luận án (60 trang), giải luận chi tiết cấu trúc phân tử của 21 hợp chất hóa học dựa trên dữ liệu phổ thực nghiệm và đối chiếu tài liệu tham khảo, đồng thời trình bày kết quả thử nghiệm hoạt tính sinh học:

Loài nấm Ký hiệu Tên hợp chất xác định Lớp chất Kết quả thử hoạt tính sinh học
Hexagonia tenuis HTM1 Hexagonin F (hợp chất mới) Triterpenoid Ức chế 5 dòng tế bào: SK-LU-1, HepG2, Hep3B, SW480, MCF-7
HTM2 Hexatenuin A Triterpenoid Ức chế 5 dòng tế bào: SK-LU-1, HepG2, Hep3B, SW480, MCF-7
HTM3 Hexagonin B Triterpenoid Ức chế 5 dòng tế bào: SK-LU-1, HepG2, Hep3B, SW480, MCF-7
HTM4 Ergosterol Sterol Ức chế 5 dòng tế bào ung thư khảo sát
HTM5 Ergosterol peroxide Sterol Ức chế 5 dòng tế bào ung thư khảo sát
Phellinus gilvus PGE1 1,2,4,5-tetrachloro-3,6-dimethoxybenzene Dẫn xuất benzene clo hóa Độc tế bào ung thư KB; khảo sát kháng vi sinh vật kiểm định
PGE2 Ergosterol Sterol Gây độc tế bào ung thư biểu mô KB
PGE3 Ergosterol peroxide Sterol Gây độc tế bào ung thư biểu mô KB
PGE4 (E)-4-(3,4-dihydroxyphenyl)but-3-en-2-one Phenolic Khảo sát hoạt tính độc tế bào ung thư biểu mô KB
PGE5 4,4'-dihydroxy-3,3',6,6'-tetramethyl-[1,1'-bi(cyclohexane)]-3,3',6,6'-tetraene-2,2',5,5'-tetraone Phenolic Khảo sát cấu trúc bằng GC-MS và phổ cộng hưởng từ
Phellinus baumii PBE1 1,2,4,5-tetrachloro-3,6-dimethoxybenzene Dẫn xuất clo hữu cơ Không thể hiện hoạt tính gây độc tế bào ung thư biểu mô KB
PBE2 Aldehyde 3,4-dihydroxylbenzoic Polyphenol Xác định cấu trúc hóa học
PBE3 Methyl 3,4-dihydroxybenzoate Polyphenol Xác định cấu trúc hóa học
PBE4 (E)-4-(3,4-dihydroxyphenyl)but-3-en-2-one Polyphenol Hoạt tính gây độc tế bào KB ở mức trung bình
PBE5 Inoscavin A Styrylpyrone Hoạt tính gây độc tế bào KB ở mức trung bình
Ganoderma australe GAM1 Ganoderic acid Sz Lanostane triterpenoid Xác định cấu trúc bằng phổ NMR, MS
GAM2 Ganoderic acid Y Lanostane triterpenoid Xác định cấu trúc bằng $^{13}\text{C}$-NMR và DEPT
GAM3 Ganoderal A Lanostane triterpenoid Xác định cấu trúc bằng $^{13}\text{C}$-NMR và DEPT
GAM4 Ganoderol B Lanostane triterpenoid Xác định cấu trúc bằng phổ NMR
GAM5 Ergosterol Sterol Cấu trúc phân tử xác định
GAM6 Ergosterol peroxide Sterol Cấu trúc phân tử xác định

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học cơ bản và thực tiễn như sau:

  1. Về thành phần hóa học:
    • Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về thành phần hóa học của 4 loài nấm Hexagonia tenuis, Phellinus gilvus, Phellinus baumii và Ganoderma australe thu hái tại khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam.
    • Đã phân lập và xác định cấu trúc của 21 lượt hợp chất. Trong đó, phát hiện một hợp chất mới là Hexagonin F (từ nấm Hexagonia tenuis).
    • Lần đầu tiên phân lập các hợp chất hexagonin F và hexagonin B từ loài Hexagonia tenuis.
    • Lần đầu tiên xác định sự có mặt của hợp chất clo hữu cơ 1,2,4,5-tetrachloro-3,6-dimethoxybenzene và các polyphenol chuyên biệt trong các mẫu nấm Phellinus thu hái tại Nghệ An.
  2. Về hoạt tính sinh học:
    • Lần đầu tiên công bố kết quả thử nghiệm hoạt tính ức chế tế bào khối u của 5 hợp chất phân lập từ nấm Hexagonia tenuis trên 5 dòng tế bào ung thư ở người gồm: SK-LU-1 (ung thư phổi), HepG2 (ung thư gan), Hep3B (ung thư gan), SW480 (ung thư ruột kết) và MCF-7 (ung thư vú).
    • Xác định hoạt tính gây độc tế bào ung thư biểu mô dòng KB của các hợp chất phân lập từ nấm Phellinus gilvus và Phellinus baumii, trong đó chứng minh (E)-4-(3,4-dihydroxyphenyl)but-3-en-2-one (PBE4) và inoscavin A (PBE5) có hoạt tính gây độc mức độ trung bình đối với dòng tế bào ung thư biểu mô KB.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ trên phạm vi và nội dung thực nghiệm được trình bày trong luận án:

  • Phạm vi lấy mẫu tập trung chủ yếu tại Vườn quốc gia Pù Mát (tỉnh Nghệ An), chưa mở rộng khảo sát so sánh hàm lượng hoạt chất của các loài nấm này tại các sinh cảnh khác nhau trên toàn dải Bắc Trung Bộ.
  • Các thử nghiệm hoạt tính sinh học mới chỉ dừng lại ở quy mô in vitro trên các dòng tế bào ung thư và các chủng vi sinh vật kiểm định chuẩn, chưa tiến hành thử nghiệm mô hình in vivo trên động vật thực nghiệm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất là tiếp tục mở rộng phân lập các phân đoạn phân cực cao (cao nước và cao butanol), làm sáng tỏ cơ chế tác động phân tử đối với sự ức chế tế bào ung thư của hexagonin F và các triterpenoid liên quan.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Hóa hữu cơ, Hóa dược và Hóa học các hợp chất thiên nhiên: Cung cấp phương pháp luận thực nghiệm về quy trình chiết tách phân bố lỏng - lỏng, kỹ thuật sắc ký cột silica gel, HPLC điều chế và phương pháp giải mã dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D/2D-NMR, HR-ESI-MS của các nhóm triterpenoid, steroid và polyphenol.
  • Các nhà nghiên cứu Sinh học nấm và Dược liệu học: Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm về nguồn hoạt chất thứ cấp và tiềm năng độc tế bào khối u của các loài nấm bản địa tại khu vực Bắc Trung Bộ.
  • Các viện nghiên cứu phát triển dược phẩm và thực phẩm chức năng: Dữ liệu về nấm Phellinus baumii, Phellinus gilvus và Ganoderma australe là cơ sở khoa học để định danh, chuẩn hóa nguyên liệu và định hướng chiết xuất hoạt chất ứng dụng hỗ trợ điều trị.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã phát hiện ra hợp chất mới nào và từ loài nấm nào? Luận án đã phân lập và xác định cấu trúc một hợp chất mới là Hexagonin F (thuộc nhóm triterpenoid) từ dịch chiết quả thể nấm Hexagonia tenuis thu hái tại Vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An.

2. Các hợp chất từ nấm Hexagonia tenuis đã được thử nghiệm trên những dòng tế bào ung thư nào? Cả 5 hợp chất (HTM1–HTM5) từ nấm Hexagonia tenuis được thử nghiệm và ghi nhận khả năng ức chế đối với 5 dòng tế bào ung thư ở người gồm: SK-LU-1 (ung thư phổi), HepG2 (ung thư gan), Hep3B (ung thư gan), SW480 (ung thư ruột kết) và MCF-7 (ung thư vú).

3. Hợp chất 1,2,4,5-tetrachloro-3,6-dimethoxybenzene được tìm thấy trong những loài nấm nào của luận án? Hợp chất dẫn xuất benzene chứa clo này được phân lập từ dịch chiết quả thể của hai loài nấm thuộc chi Phellinus là Phellinus gilvus (hợp chất PGE1) và Phellinus baumii (hợp chất PBE1).

4. Dòng tế bào ung thư biểu mô nào được sử dụng để sàng lọc hoạt tính các hợp chất từ nấm Phellinus gilvus và Phellinus baumii? Dòng tế bào ung thư biểu mô được sử dụng trong các thử nghiệm của hai loài nấm này là dòng tế bào KB (được cung cấp bởi ATCC), thực hiện bằng phương pháp đo độ độc tế bào MTT theo tiêu chuẩn NCI.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Xuân Hưng đã hoàn thành việc khảo sát hóa học và hoạt tính sinh học trên bốn loài nấm lớn (Hexagonia tenuis, Phellinus gilvus, Phellinus baumii, Ganoderma australe) tại khu vực Bắc Trung Bộ. Bằng các kỹ thuật phân lập sắc ký và phương pháp phổ học hiện đại (1D/2D-NMR, HR-ESI-MS, X-ray), công trình đã xác định cấu trúc của 21 hợp chất, trong đó phát hiện hợp chất mới hexagonin F cùng nhiều hợp chất lần đầu phân lập từ các loài nấm này. Đồng thời, luận án đã cung cấp số liệu thực nghiệm định lượng về khả năng gây độc trên 6 dòng tế bào ung thư và hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của các hợp chất phân lập được. Đây là công trình khoa học đóng góp dữ liệu thực nghiệm vào hệ thống hóa học các hợp chất thiên nhiên từ nguồn nấm dược liệu tại Việt Nam.