Luận án tiến sĩ nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học hai loài sao biển anthenea sibogae và anthenea aspera của việt nam

Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học hai loài sao biển anthenea sibogae và anthenea aspera của, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

225
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

2. CHƯƠNG I: Giới thiệu về sao biển

2.1. Cấu tạo của sao biển và phân bố

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Xác định cấu trúc các hợp chất từ loài sao biển Anthenea sibogae

4.2. Xác định cấu trúc các hợp chất từ loài sao biển Anthenea aspera

4.3. Kết quả thử hoạt tính sinh học của một số chất mới phân lập từ sao biển

5. CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về sao biển

Sao biển là động vật không xương sống thuộc lớp Asteroidea, ngành Da gai (Echinodermata). Chúng sống ở tất cả các đại dương trên thế giới, từ vùng biển nhiệt đới đến vùng biển lạnh. Sao biển có khoảng 1800 loài, với hình dạng đặc trưng là có 5 cánh, mặc dù một số loài có thể có đến 40 cánh. Chúng được bao phủ bởi lớp da gai và có khung xương cứng bên trong, giúp bảo vệ khỏi kẻ săn mồi. Sao biển có khả năng tiêu hóa con mồi bên ngoài cơ thể, sử dụng ống chân để mở vỏ và đẩy dạ dày vào bên trong con mồi. Chúng có vòng đời phức tạp và có khả năng tái tạo các bộ phận bị hư hỏng. Điều này cho thấy vai trò sinh thái quan trọng của sao biển trong hệ sinh vật biển, đặc biệt là trong việc duy trì sự cân bằng sinh thái.

II. Cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học của sao biển

Nghiên cứu về hóa học của sao biển cho thấy chúng sản xuất nhiều hợp chất thứ cấp, bao gồm các dẫn xuất steroid và lipid. Các hợp chất này, như asterosaponin, có vai trò quan trọng trong phòng thủ và liên lạc. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hợp chất từ sao biển có khả năng kháng viêm, giảm đau, và kháng khuẩn. Đặc biệt, các hợp chất này có thể gây độc tế bào và ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Việc phân lập và xác định cấu trúc của các hợp chất này từ hai loài sao biển Anthenea sibogaeAnthenea aspera sẽ cung cấp thông tin quý giá cho nghiên cứu hoạt tính sinh học và ứng dụng trong y học.

III. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính trong luận án này là hai loài sao biển Anthenea sibogaeAnthenea aspera. Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc thu thập mẫu từ vùng biển Việt Nam, sau đó tiến hành chiết tách và phân lập các hợp chất. Các phương pháp sắc ký và phổ được sử dụng để xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất. Đặc biệt, các thử nghiệm hoạt tính sinh học sẽ được thực hiện để đánh giá khả năng gây độc tế bào và kháng khuẩn của các hợp chất phân lập được. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học của sao biển mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các sản phẩm từ thiên nhiên.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy các hợp chất phân lập từ Anthenea sibogaeAnthenea aspera có nhiều hoạt tính sinh học đáng chú ý. Các hợp chất như cholesterol, thymine, và L-tyrosine đã được xác định và cho thấy khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Đặc biệt, một số hợp chất mới được phát hiện có tiềm năng cao trong việc phát triển thuốc điều trị ung thư. Việc phân tích hóa họchoạt tính sinh học của các hợp chất này không chỉ góp phần vào việc bảo tồn biodiversity mà còn mở ra cơ hội cho việc phát triển các sản phẩm dược phẩm từ nguồn tài nguyên biển phong phú của Việt Nam.

V. Kết luận và kiến nghị

Luận án đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về hóa họchoạt tính sinh học của hai loài sao biển Anthenea sibogaeAnthenea aspera. Kết quả nghiên cứu không chỉ khẳng định giá trị của các hợp chất từ sao biển trong y học mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn tài nguyên biển. Đề xuất cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn về các loài sao biển khác ở Việt Nam để khai thác tiềm năng dược liệu từ thiên nhiên. Việc này sẽ góp phần vào việc phát triển bền vững và bảo tồn hệ sinh thái biển.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. Giới thiệu về sao biển 1. Cấu tạo của sao biển và phân bố Sao biển là động vật không xương sống thuộc lớp Asteroidea, ngành Da gai (Echinodermata). Có khoảng 1800 loài sao biển sống ở tất cả các đại dương trên thế giới từ vùng biển nhiệt đới đến vùng biển lạnh, từ bãi triều đến đáy biển sâu.

Là một động vật biển thuần túy, thế nên không có loài sao biển nào sống trong môi trường nước ngọt và chỉ một số ít sống trong môi trường nước lợ. Tên gọi “sao biển” bắt nguồn từ hình dạng có 5 cánh của đa số các loài, tuy nhiên cũng có những loài có đến 10, 20 thậm chí 40 cánh [1]. Đặc biệt, sao biển Labidiaster annulatus sống ở Nam Cực có tới hơn 50 cánh [2]. Sao biển được bao phủ bên ngoài bởi một lớp da gai, bên trong là khung xương rất cứng giúp bảo vệ chúng khỏi những kẻ săn mồi.

Cơ thể sao biển thường có một đĩa trung tâm và năm cánh, một số ít loài có số lượng cánh tay lớn hơn. Bề mặt phía trên có thể mịn, dạng hạt hoặc gai, và được phủ bằng các tấm chồng lên nhau. Nhiều loài có màu sắc rực rỡ với các sắc thái khác nhau của màu đỏ hoặc cam, trong khi có những loài có màu xanh lam, xám hoặc nâu, có tác dụng ngụy trang hoặc đe dọa kẻ thù. Sao biển có chân ống được vận hành bởi một hệ thống thủy lực và một miệng ở trung tâm của bề mặt dưới.

Sao biển không có đầu và việc di chuyển được thực hiện bởi hệ thống chân ống nằm phía dưới mỗi cánh tay. Tốc độ di chuyển rất chậm, khoảng 5-10 cm/phút. Thức ăn của chúng đa số là các động vật không xương sống, cá nhỏ ở tầng đáy, rong biển và cả san hô. Phần lớn sao biển đều có khả năng đặc biệt đó là tiêu hóa con mồi bên ngoài cơ thể.

Chúng sử dụng những ống chân nhỏ xíu để mở vỏ trai hoặc hàu rồi sau đó đẩy dạ dày ra khỏi miệng và luồn vào bên trong con mồi. Tiếp đó chúng sẽ tóm lấy và tiêu hóa con mồi, và cuối cùng thu dạ dày trở lại cơ thể. Sao biển có vòng đời phức tạp và có thể sinh sản cả hữu tính và vô tính. Hầu hết sao biển có khả năng tái tạo các bộ phận bị hư hỏng hoặc cánh tay bị mất, đặc biệt có một số loài có thể tái tạo lại toàn bộ cơ thể từ một phần cánh tay bị đứt lìa.

luan an 3 Hình 1. Cấu tạo của sao biển (nguồn: inforvisual.info) Lớp Asteroidea đóng vai trò sinh thái quan trọng trong hệ sinh vật biển. Sao biển màu nâu đất Pisaster ochraceus và sao biển rạn san hô Stichaster australis, đã được biết đến rộng rãi như là các loài chìa khóa (keystone species) trong hệ sinh thái. Loài sao biển gai Acanthaster planci là loài tiêu diệt san hô ở khắp vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương và bắc Thái Bình Dương và được coi là một trong 100 loài xâm lấn tồi tệ nhất thế giới.

Sao biển sản xuất một số lượng lớn các hợp chất thứ cấp ở dạng lipit, bao gồm các dẫn xuất steroid của cholesterol và amit axit béo của sphingosine. Các steroid chủ yếu ở dạng saponin, được gọi là asterosaponin, và các dẫn xuất sunfat hóa của chúng. Các chất này khác nhau tùy theo loài và có thể có đến tối đa sáu phân tử đường (thường là glucose và galactose). Ngoài ra, một số lượng nhỏ các alkaloid cũng đã được tìm thấy trong sao biển.

Chức năng của các hợp chất này trong sao biển chưa được nghiên cứu đầy đủ nhưng hầu hết có vai trò trong phòng thủ và liên lạc. Một số chất được sử dụng bởi sao biển để ngăn chặn những kẻ săn mồi. Các chất chống đông máu và các peesellariae dạng chân kìm rất nhỏ có tác dụng ngăn chặn các sinh vật khác định cư trên bề mặt trên của sao biển. Nghiên cứu về tác dụng của các hợp chất này để sử dụng trong ngành y dược hoặc công nghiệp đang được tiến hành trên toàn thế giới [3].

Lớp sao biển Asteroidea được chia thành 7 bộ [4]: - Bộ Brisingida: có 18 chi thuộc 2 họ với khoảng 100 loài, chủ yếu sống dưới đáy biển sâu, cánh tay mỏng, chiều dài từ 6-16 cm. - Bộ Forcipulatida: có 68 chi thuộc 6 họ với khoảng 300 loài, có đặc điểm đặc trưng là cánh tay dạng kìm nhỏ. luan an 4 - Bộ Notomyotida: có 12 chi thuộc 1 họ với khoảng 75 loài, là các loài sao biển sống dưới biển sâu với cánh tay rất linh hoạt và các sợi cơ dài dọc theo bề mặt hông bên trong cơ thể. - Bộ Paxillosida: có 46 chi thuộc 6 họ với khoảng 255 loài, nét đặc trưng là có cánh tay nhọn và có thể vùi cơ thể dưới các lớp bùn cát.

- Bộ Spinulosida: có 7 chi thuộc 2 họ với khoảng 120 loài. Là các sao biển với bộ khung tương đối mảnh và chân dạng kìm nhỏ. - Bộ Valvatida: có 172 chi thuộc 17 họ với khoảng 695 loài. Cấu tạo khá đa dạng và thường có đặc điểm chung là xương mép nhỏ, 5 cánh với chân ống.

- Bộ Velatida: có 25 chi thuộc 5 họ với khoảng 203 loài. Các loài sao biển thuộc bộ này thường có thân mỏng với vòng tròn trung tâm lớn và những chỗ lõm với đường kính lớn. Các loài sao biển ở Việt Nam Các nghiên cứu về khu hệ động vật đáy vùng biển Đông trước năm 2003 chỉ ra có khoảng 56 loài sao biển được ghi nhận ở vùng biển Việt Nam [6]. Báo cáo gần đây của nhóm các nhà khoa học Nga (Antokhina và cs.) đưa ra danh mục gồm 79 loài sao biển tìm thấy ở vùng biển Việt Nam [7].

Tuy nhiên số liệu trên còn khá khiêm tốn so với 236 loài được phát hiện ở vùng biển Đông [8,9]. Do đó cần thiết phải có thêm các nghiên cứu về đa dạng loài sao biển tại Việt Nam. Các loài sao biển phân bố dọc bờ biển từ bắc vào nam và ở các độ sâu khác nhau. Hai vùng biển chứa số lượng sao biển đa dạng và phong phú nhất là vịnh Nha Trang và Vạn Bội – Cát Bà.

Riêng ở vịnh Nha Trang, các nhà khoa học đã phát hiện được khoảng 20 loài sao biển thuộc 16 chi, 11 họ và 4 bộ khác nhau. Phần lớn các loài sao biển tìm thấy ở Việt Nam thuộc các bộ và họ sau: - Bộ Spinulosida: họ Echinasteridae - Bộ Valvatida: họ Oreasteridae, Ophidiasteridae, Archasteridae. - Bộ Paxillosida: họ Astropectinidae - Bộ Forcipulatida: họ Asteridae Một số loài thường được sử dụng làm thực phẩm, ngâm rượu, làm thuốc hoặc làm đồ mỹ nghệ. Theo y học cổ truyền phương Đông, sao biển là một vị thuốc có tác dụng tăng cường miễn dịch, chống ung thư, bổ dương và kháng viêm.

Họ sao biển Oreasteridae Họ Oreasteridae thuộc bộ Valvatida, bao gồm các loài sao biển thường có 5 cánh tay bao quanh phần trung tâm cứng, lồi và có màu sắc sặc sỡ. Chúng được chia thành 20 chi [5]: Acheronaster, Anthaster, Anthenea, Astrosarkus, Bothriaster , Choriaster, Culcita, Goniodiscaster, Gymnanthenea, Halityle, Monachaster, Nectriaster, Nidorellia, Oreaster, Pentaceraster, Pentaster, Poraster, Protoreaster, Pseudanthenea và Pseudoreaster. Trong số đó, chi Anthenea có khoảng 31 loài, phân bố ở tất cả các đại dương, nhất là ở vùng biển Australia, Đông Thái Bình Dương, Bắc Mỹ và vùng biển nhiệt đới Ấn độ - Thái Bình Dương. Thành phần hóa học họ sao biển Oreasteridae Các nghiên cứu hóa học về các loài sao biển trên thế giới đã chỉ ra hai nhóm chất quan trọng nhất có trong sao biển có thể đem lại hoạt tính sinh học đó là các steroid phân cực (polyhydroxysteroid, steroid glycoside, steroid sulfate) và glycosphingolipid (ceramide, cerebroside, ganglioside).

Các công trình về glycosphingolipid chủ yếu được công bố bởi các nhà khoa học Nhật Bản. Lớp chất steroid phân cực từ sao biển thu hút được sự quan tâm đáng kể với hàng trăm công bố, trong số đó nhiều nhất là của nhóm nghiên cứu của GS. Stonik và TSKH. Kicha tại Viện Hóa sinh hữu cơ Thái Bình Dương tại Vladivostok (PIBOC).

Một số lượng lớn chất mới được phân lập và xác định cấu trúc, trong đó nhiều chất có hoạt tính sinh học đáng chú ý, đặc biệt là hoạt tính gây độc tế bào trên nhiều dòng tế bào ung thư ở người. Các hợp chất này có cấu trúc đa dạng, phân biệt bởi số lượng và vị trí các nhóm hydroxyl và sulfate, vị trí và số lượng của nối đôi trên khung steroid, cấu trúc mạch nhánh, cấu trúc và số lượng các phân tử đường đính kèm… Ngoài ra trong sao biển còn có mặt một số lớp chất khác như: dẫn xuất mycosporin, tetrodotoxin, alkaloid, isoquinoline alcaloid, glycolipid, icosanoid, dẫn xuất taurine, dipeptide dimer, anthraquinone, xanthosine, dẫn xuất pyrrole và triterpene. Hiện tại có khoảng 100 loài sao biển trên thế giới đã được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau với hơn 650 hợp chất steroid (trong đó 400 chất glycoside) và hơn 100 hợp chất chứa ceramide được phân lập. Riêng họ sao biển Oreasteridae mới chỉ có 9 loài được nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học.

Chi Anthenea luan an 6 trước đây mới chỉ có hai loài được nghiên cứu là Anthenea chinensis và Anthenea aspera. Steroid Các hợp chất steroid là các chất chuyển hóa thứ cấp chủ yếu có trong sao biển, bao gồm các polyhydroxysteroid, steroid glycoside và asterosaponin. Các hợp chất này có thể ở dạng tự do hoặc dưới dạng muối sulfate. Polyhydroxysteroid Mặc dù các hợp chất polyhydroxysteroid có thể tìm thấy ở nhiều loại sinh vật biển khác nhau nhưng trong sao biển, chúng là lớp chất phổ biến nhất với cấu trúc đa dạng và thường xuyên ở dạng hỗn hợp.

Phần lớn các hợp chất này có khung 3β, 6α (hoặc β),8,15α (hoặc β),16β-pentahydroxycholestane, một số có gắn thêm nhóm OH ở vị trí 4β, 5α, 7α (hoặc β) hoặc 14α. Chuỗi mạch nhánh thường có cấu hình (25S)- 26-hydroxy. Đôi khi có chuỗi mạch nhánh với với nhóm OH-24 với cấu hình (S). Có một số ít trường hợp mạch nhánh có nhóm axit ở vị trí 26 dưới dạng amide của taurine.

Polyhydroxysteroid thường xuất hiện dưới dạng muối sulfate, và rất hiếm khi được tìm thấy ở dạng muối phosphorylate [10]. Có thể xếp các hợp chất sterol thành 4 dạng cơ bản: 3 -sterol (A1), 3-O- sulfonyl sterol (A2), 3-OH,6-OH-sterol (A3) và 3-OH,6-OH-sterol (A4). Các dạng cấu trúc sterol chính từ sao biển (S: mạch nhánh) Trong họ sao biển Oreasteridae, dạng cấu trúc 3β,6α(β),15α,16β- hydroxycholestane (dạng A3, A4) được tìm thấy ở sao biển Choriaster granulates (1) [11] và Protoreaster nodosus (hợp chất 2-7) [12-14].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học của hai loài sao biển Anthenea Sibogae và Anthenea Aspera ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Anh Hưng, dưới sự hướng dẫn của PGS Trần Thị Thu Thủy và TSKH Alla Anatolievna Kicha, được thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích hóa học và đánh giá hoạt tính sinh học của hai loài sao biển đặc trưng tại Việt Nam, từ đó mở ra những cơ hội mới trong việc khai thác và ứng dụng các hợp chất thiên nhiên trong y học và công nghệ sinh học. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hợp chất sinh học từ sao biển mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và nghiên cứu đa dạng sinh học biển.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến hóa học và hoạt tính sinh học, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học của hợp chất tử vi nấm biển tại miền Trung Việt Nam, nơi nghiên cứu về các hợp chất sinh học từ nấm biển, và Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học và hóa học của hợp chất từ nấm biển tại miền Trung Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hoạt tính sinh học của các hợp chất từ nấm biển. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có thêm thông tin và góc nhìn đa dạng về lĩnh vực nghiên cứu hóa học và sinh học.