Tổng quan luận án

Luận án được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Lâm Hồng tại Trường Đại học Dược Hà Nội, chuyên ngành Kiểm nghiệm thuốc và độc chất (mã số 62720410), bảo vệ năm 2019, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Việt Hùng (Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm thuốc TP.HCM) và PGS.TS Đoàn Thị Mai Hương (Phó phòng Tổng hợp hữu cơ, Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam). Kinh phí thực hiện từ Đề tài độc lập cấp Nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dịch chiết ethyl acetat từ quả ba loài thuộc chi Cách hoa — Cách hoa Đông Dương (Cleistanthus indochinensis Merr. ex Croiz.), Chả chôi (C. tonkinensis Jabl.) và Cách hoa eberhardt (C. eberhardtii Gagn.) — được Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam phối hợp với Viện Hóa học hợp chất tự nhiên CNRS (Cộng hòa Pháp) xác định có khả năng ức chế dòng tế bào ung thư biểu mô KB từ 88,40 đến 95,17% ở nồng độ 1 µg/mL. Từ dịch chiết đó, hai hoạt chất chính là cleistantoxin và cleisindoside D được phân lập, có cấu trúc hóa học gần tương đồng với etoposid và teniposid — hai dẫn chất glycosid của podophyllotoxin đang được sử dụng làm thuốc điều trị ung thư tinh hoàn và phổi. Thử nghiệm trên chuột Nude cho thấy nhóm điều trị bằng cao khô chiết xuất từ quả Chả chôi với liều 100 mg/kg (nhóm CT-HSB 2) có 100% chuột còn sống sau 6 tuần và thời gian sống kéo dài hơn nhóm chứng 45,43%.

Để xây dựng tiêu chuẩn cho cao khô đang được phát triển thành nguyên liệu thuốc, cần có phương pháp định tính và định lượng cleistantoxin và cleisindoside D, từ đó đòi hỏi phải có chất chuẩn tương ứng. Tuy nhiên, trên thế giới chưa có chất chuẩn đối chiếu cleistantoxin và cleisindoside D, và tại Việt Nam hầu như chưa có công trình nào công bố thiết lập chất chuẩn gốc (primary reference standard) — chủ yếu mới dừng lại ở thiết lập chất chuẩn thứ cấp.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án đặt ra ba mục tiêu:

  1. Phân lập, tinh chế và khẳng định cấu trúc cleistantoxin và cleisindoside D từ quả cây Chả chôi làm nguyên liệu thiết lập chất chuẩn; đồng thời xác định cấu trúc các chất tinh khiết mới phân lập được.
  2. Thiết lập hai chất chuẩn gốc định lượng cleistantoxin và cleisindoside D.
  3. Xây dựng và thẩm định phương pháp định tính và định lượng một số lignan trong quả của chi Cách hoa (Cleistanthus).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng phân lập, tinh chế là 168 g cao cồn khô chiết xuất từ 16 kg quả tươi cây Chả chôi (Cleistanthus tonkinensis Jabl.), thu hái ngày 06/06/2016 tại Đại Từ – La Bằng – Thái Nguyên (ký hiệu VN 0308 I.B-TN). Đối tượng phân tích định tính, định lượng bao gồm quả Chả chôi thu hái ngày 16/06/2018 tại Đại Từ – La Bằng – Thái Nguyên và quả Cách hoa eberhardt thu hái ngày 08/06/2018 tại Phú Lộc – Thừa Thiên Huế (ký hiệu ĐI.3). Mẫu được xác định tên loài và lưu giữ tại Viện Tài nguyên và sinh thái, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước được tác giả điểm lại

Tác giả tổng quan nghiên cứu theo ba nhóm chính:

Nghiên cứu trên thế giới về chi Cleistanthus:

  • Loài Cleistanthus collinus Roxb. tại Ấn Độ được nghiên cứu kỹ nhất: Thamburaj Suman và cộng sự thử tác dụng gây độc tế bào in vitro của dịch chiết và các phân đoạn (nước, methanol, ethyl acetat, 100 µg/mL) từ lá khô trên dòng tiền tế bào mỡ 3T3-L1 (ủ 48 giờ). Nhiều tác giả phát hiện cleistanthin A và B trong lá và lõi gỗ cây, trong đó cleistanthin A có giá trị LD₅₀ là 38,1 µM so với etoposid là 22; cleistanthin B thử in vivo với dòng EAC và DAL ở liều 25, 50 và 100 mg/kg trong 10 ngày, so với 5-fluorouracil (5-FU) 20 mg/kg — kết quả cleistanthin B ở liều 50 mg/kg có hoạt tính kháng u nhưng không hiệu quả bằng 5-FU.
  • Từ lõi gỗ Cleistanthus patulus (Muell.) phân lập được cleistanthosid A và B, taiwanin C, cleistanthin A.
  • Từ dịch chiết EtOAc thân cây Cleistanthus boivinianus (Baill.) Müll. Arg. (Madagascar) phân lập được lignan mới: hợp chất (1) 3α-O-(β-D-glucopyranosyl)desoxypodophyllotoxin với giá trị IC₅₀ kháng A2780 là 33,0 ± 3,6 nM; kháng HCT-116 IC₅₀ là 20,5 nM; hợp chất (2) 4-O-(β-D-glucopyranosyl)dehydropodophyllotoxin IC₅₀ kháng A2780 là 2,3 nM.

Nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Năm 2012, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam lần đầu tiên phân lập và công bố cấu trúc cleistantoxin, cleisindoside D từ quả cây chi Cách hoa tại Việt Nam (tài liệu [82], [83]). Cleistantoxin có hoạt tính kháng ung thư in vitro trên các dòng MCF7, MCF7R, HT29 với giá trị IC₅₀ trong khoảng 14–36 nM (tương đương 0,006–0,014 µg/mL); đặc biệt ức chế chọn lọc dòng ung thư vú kháng thuốc MCF7R với IC₅₀ 14 nM so với MCF7 thông thường IC₅₀ 36 nM. Theo Viện Nghiên cứu Ung thư Mỹ (NCI), hợp chất có IC₅₀ < 4 ng/mL mới được coi là có hoạt tính gây độc tế bào.
  • Nghiên cứu mô phỏng tương tác cho thấy cleistantoxin và cleisindoside D có ái lực với receptor của con đường nội bào (PARP-I, BID, BIA, NOXA); cleisindoside D cho ái lực với PARP-I là -10.

Phương pháp phân tích aryltetralin lignan đã có:

  • Jairo K. Bastos và cộng sự phân tích lignan trong Podophyllum peltatum bằng HPLC pha đảo (cột Taxsil®, pha động MeOH:H₂O:CH₃COOH với 0,192% NH₄COOH pH=3,46) nhưng mới dừng ở xác định độ tinh khiết sắc kí và tạp hữu cơ, chưa xác định tạp bay hơi và tạp vô cơ theo hướng dẫn IP và WHO.
  • Nghiên cứu phân tích aryltetralin lignan trong C. indochinensis [82] mới bước đầu xác định hàm lượng bằng cột Zorbax XDB C-18, chưa khảo sát trên nhiều loại dung môi chiết, và chất chuẩn sử dụng chỉ dừng lại ở nhận dạng cấu trúc mà chưa tiến hành xác định độ tinh khiết đầy đủ.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Chưa có chất chuẩn gốc cleistantoxin và cleisindoside D trên thế giới. Tại Việt Nam, chưa có công trình công bố thiết lập chất chuẩn gốc từ hợp chất phân lập từ tự nhiên theo hướng dẫn của IP, WHO và USP. Phương pháp định tính và định lượng đồng thời các lignan này trong dược liệu cũng chưa được xây dựng và thẩm định đầy đủ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án dựa trên khái niệm chất chuẩn gốc (primary chemical reference standard – PCRS) theo định nghĩa của ICH Guideline Q7: là chất được xác định nhiều đặc tính bằng các kỹ thuật phân tích phù hợp, có độ tinh khiết cao và đáng tin cậy, giá trị ấn định không cần so sánh với chất chuẩn khác. Quy trình thiết lập tuân theo ISO 17034 và ISO GUIDE 35 gồm: xác định nhu cầu → thu thập nguyên liệu → chuẩn bị → đánh giá độ đồng nhất → xác định các đặc tính → kiểm soát độ ổn định.

Độ tinh khiết của chất chuẩn gốc được tính theo công thức cân bằng khối lượng:

Độ tinh khiết = (100 − % tạp hữu cơ) × (100 − % tạp bay hơi − % tạp vô cơ) / 100

Các nhóm tạp được phân loại thành tạp hữu cơ (tạp chất liên quan, tạp chất phân hủy), tạp vô cơ và tạp bay hơi.

Nhóm lignan là trọng tâm hóa học: aryltetralin lignan có cấu trúc từ hai đơn vị phenylpropanoid C₆-C₃ liên kết qua vị trí C-8 và C-8'. Cleistantoxin (C₂₁H₁₈O₈, MW 398,0 Da; công bố [82]) và cleisindoside D (C₂₇H₂₈O₁₃, MW 560 Da; công bố [83]) là glycosid aryltetralin có cấu trúc gần với podophyllotoxin và etoposid.

Phương pháp thực tế

Phân lập và tinh chế:

Kỹ thuật Điều kiện
Sắc ký cột cổ điển (CC) Silica gel 40–63 µm (Merck); pha động n-hexan/CH₂Cl₂/aceton/MeOH
Cột Sephadex LH-20 25–100 µm (Sigma); rửa giải MeOH 100%
Cột pha đảo YMC-GEL ODS-A, cỡ hạt 75 µm; pha động aceton-H₂O, MeOH-H₂O
TLC và TLC điều chế Silica gel 60 GF₂₅₄ (Merck); phát hiện Ce(SO₄)₂ hoặc vanilin/H₂SO₄ đặc; UV 254 nm và 365 nm
Kết tinh Dung môi thích hợp + dung môi thứ hai không hòa tan

Khẳng định cấu trúc:

  • Phổ NMR 1D (¹H-NMR, ¹³C-NMR, DEPT) và 2D (HSQC, COSY, HMBC, NOESY): thiết bị Bruker AMS500 FT-NMR, Viện Hóa học, Viện HL KH&CN VN; dung môi CDCl₃, CD₃OD, DMSO
  • Phổ khối lượng phân giải cao (HR-ESI-MS): FT-ICR-Mass spectrophotometer, Viện Hóa học
  • Phổ hồng ngoại (IR): Nicolet LEXUS8, 670FT-W
  • Phổ lưỡng sắc tròn (CD): Chirascan™ CD spectrometer, Viện Hóa sinh biển
  • Góc quay cực riêng: JASCO DIP-2000 KUP polarimeter

Thiết lập chất chuẩn gốc:

  • Độ tinh khiết sắc kí: HPLC/DAD (Agilent 1200 và Shimadzu 20A), phương pháp chuẩn hóa diện tích
  • Tạp bay hơi: TGA/DSC1 Mettler Toledo STAR System (lượng mẫu 10–20 mg)
  • Tạp vô cơ: phép thử tro sulfat (IP 2.3, Ph.Eur, DĐVN V – Phụ lục 9.6)
  • Độ tinh khiết trực tiếp: DSC (yêu cầu > 95%, tốt hơn > 97%)
  • Nhiệt độ nóng chảy: Kofler micro-hotstage; Buchi M-565
  • Đánh giá độ đồng nhất lô: đóng ống chất chuẩn và kiểm tra bằng HPLC/DAD

Phát triển phương pháp phân tích dược liệu:

  • Định tính 4 lignan bằng HPLC/DAD với 4 chất chuẩn đã thiết lập
  • Định lượng đồng thời cleisindoside D và cleistantoxin bằng HPLC/DAD
  • Cột sắc kí: Inertsil RP và Phenyl Phenomenex (250 × 4,6 mm, 5 µm)
  • Thẩm định theo các chỉ tiêu: độ ổn định hệ thống, độ lặp lại dung dịch chuẩn, khoảng tuyến tính, LOD, LOQ, độ lặp lại, độ tái lặp và độ đúng trên mẫu quả

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguyên liệu thực vật thu hái tại Thái Nguyên và Thừa Thiên Huế, xác định tên loài tại Viện Tài nguyên và sinh thái. Dữ liệu phổ tham chiếu từ các công bố [82] và [83]. Hướng dẫn thiết lập chất chuẩn theo ISO 17034, ISO GUIDE 35, IP, WHO và USP.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tình hình nghiên cứu về chi Cách hoa trên thế giới và tại Việt Nam

Chương tổng quan phân loại học chi Cleistanthus (thuộc bộ Sơ-ri Malpighiales, họ Thầu dầu Euphorbiaceae), gồm khoảng 140 loài phân bố nhiệt đới; tại Việt Nam có 11 loài (theo Nguyễn Nghĩa Thìn) hoặc 14 loài (theo Phạm Hoàng Hộ). Ba loài được khảo sát gồm C. indochinensis, C. tonkinensis và C. eberhardtii, với mô tả hình thái chi tiết cho từng loài.

Tác giả điểm lại thành phần hóa học và hoạt tính kháng ung thư của năm loài trong chi đã được nghiên cứu, bao gồm nghiên cứu từ Nam Phi, Thái Lan, Ấn Độ, Madagascar và Việt Nam (xem mục Tổng quan tài liệu). Phần nhóm chất lignan được trình bày hệ thống: định nghĩa, phân loại tám nhóm khung (arylnaphthalen, aryltetralin, dibenzocyclooctadien, dibenzylbutan, dibenzylbutyrolactol, dibenzylbutyrolacton, furan, furofuran), phân nhóm neolignan và lịch sử phát triển podophyllotoxin thành etoposid, etopophos và teniposid.

Phần phương pháp phân tích điểm qua ba hướng nghiên cứu đã có: phân tích lignan trong Podophyllum peltatum (HPLC pha đảo, chất chuẩn nội acetylpodophyllotoxin C=400 µg/mL EtOH); trong Schisandra chinensis (chiết siêu tới hạn CO₂ loại lipid, sau đó RP-HPLC cột Separon SGX C18, 5 µm, 150×3 mm, pha động MeOH:nước 73:27); và trong C. indochinensis [82] bằng cột Zorbax XDB C-18 — nhưng đều chưa đủ điều kiện thiết lập chất chuẩn gốc.

Phần tổng quan chất chuẩn trình bày khái niệm, phân loại (chất chuẩn gốc và thứ cấp), quy trình thiết lập theo ISO GUIDE 35, tình hình trên thế giới (WHO, EDQM, USP với hơn 3.500 CCĐC, giá dao động 125–2.875 USD tính đến tháng 05/2018; EDQM hơn 2.800 CCĐC, giá 79–1.000 EUR) và tại Việt Nam (VKNT TƯ và VKNT TP.HCM chủ yếu thiết lập chất chuẩn thứ cấp; 10 chất chuẩn thứ cấp từ dược liệu đã được thiết lập giai đoạn 2008–2010, bao gồm acid oleanolic, asiaticosid, curcumin I, damnacanthal, diosgenin, hesperidin, ginsenosid-Rb1, ginsenosid-Re1, majonosid-R2).

Chương 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu (quả Chả chôi và Cách hoa eberhardt với thông tin thu hái, ký hiệu mẫu), hóa chất và thiết bị. Các thiết bị chính bao gồm: NMR Bruker AMS500 (Viện Hóa học), HR-ESI-MS FT-ICR (Viện Hóa học), IR Nicolet LEXUS8 (Phòng Vật lí đo lường, Viện KNT TƯ), CD Chirascan™ (Viện Hóa sinh biển), HPLC/DAD Agilent 1200 (Bộ môn Hóa Phân tích – Độc chất, ĐH Dược Hà Nội) và Shimadzu 20A (Viện KNT TƯ), TGA/DSC1 Mettler Toledo STAR System (Viện KNT TƯ và Viện KNT TP.HCM, Bộ môn Hóa Phân tích – Độc chất).

Nội dung nghiên cứu được trình bày dưới dạng sơ đồ tóm tắt (Hình 2.4) với ba nhánh chính: (1) phân lập, tinh chế và khẳng định cấu trúc; (2) thiết lập chất chuẩn gốc định lượng và định tính; (3) xây dựng, thẩm định phương pháp và áp dụng định tính, định lượng trên mẫu quả.

Tiêu chí lựa chọn chất để thiết lập chất chuẩn: chất chuẩn định lượng cần đặc trưng cho loài, hàm lượng lớn và/hoặc có tác dụng sinh học; chất chuẩn định tính cần đặc trưng cho chi hoặc giúp phân biệt các loài. Yêu cầu độ tinh khiết sắc kí: > 95% cho chất chuẩn định lượng, > 90% cho chất chuẩn định tính.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu

Phân lập và tinh chế

Từ 168 g cao cồn khô quả Chả chôi, tác giả tiến hành phân lập trên cột silica gel qua nhiều giai đoạn. Kết quả thu được theo từng bước:

Phân đoạn/chất Nguồn gốc phân lập
Cleistantoxin (thô) PĐ7–8–9–10 (PĐ7) trên cột silica gel
Cleisindoside D PĐ16 trên cột silica gel
CT1 và CT7 PĐ11–12–13–14–15 trên cột silica gel
CT2 và CT6 PĐ19–23 trên cột silica gel

Sắc ký đồ (SKĐ) được dùng để phát hiện cleistantoxin trong các phân đoạn từ PĐ1–14 và cleisindoside D từ PĐ12–23. Tổng cộng phân lập được nhiều chất tinh khiết, bao gồm: cleistantoxin, cleisindoside D, cleisindoside A, neo-cleistantoxin, CT1 (7',8'-dehydrocleistantoxin), CT2, CT3, CT4, CT5, CT6, CT7, CT8 — trong đó một số là chất mới. Cấu trúc được khẳng định qua bộ phổ COSY, HMBC, NOESY (Hình 3.7, 3.8, 3.10, 3.12, 3.14, 3.15, 3.16, 3.17, 3.18, 3.20, 3.21, 3.24, 3.27, 3.29, 3.30 theo danh mục hình).

Thiết lập chất chuẩn gốc

Kết quả tính chất lý hóa của hai chất chuẩn định lượng (Bảng 3.5 và 3.6):

Chỉ tiêu Cleistantoxin Cleisindoside D
Hình thức Bột kết tinh màu trắng Bột màu trắng
Nhiệt độ nóng chảy (DSC) Ghi theo Bảng 3.8 Ghi theo Bảng 3.8
Góc quay cực [α]D²⁰ −148,0 (c 0,5; CHCl₃) [82] −188 [83]
Độ tinh khiết SK (LOD phát hiện) Bảng 3.15 Bảng 3.15

Chương trình sắc kí HPLC/DAD xác định độ tinh khiết (Bảng 3.11, 3.12): LOD của cleistantoxin đạt 0,05 µg/mL; LOD của cleisindoside D đạt 0,1 µg/mL. Khoảng tuyến tính và dung dịch định lượng ở nồng độ 1000 µg/mL được khảo sát và đánh giá độ lặp lại (Bảng 3.14, 3.16).

Kết quả thẩm định phương pháp xác định độ tinh khiết sắc kí (Bảng 3.13): đánh giá độ ổn định hệ thống và các điều kiện sắc kí. Độ lặp lại dung dịch cleistantoxin và cleisindoside D ở nồng độ 1000 µg/mL ghi nhận ở Bảng 3.16. Bảng 3.17 ghi nhận độ chính xác trung gian. Bảng 3.18 ghi nhận độ ổn định dung dịch. Tạp bay hơi xác định bằng TGA (Bảng 3.19); tạp vô cơ bằng tro sulfat (Bảng 3.20). Tóm tắt tiêu chuẩn chất lượng của chất chuẩn gốc định lượng cleistantoxin và cleisindoside D lần lượt ở Bảng 3.21 và 3.22.

Đánh giá độ đồng nhất lô đóng ống (Bảng 3.23); độ tinh khiết sắc kí sau đóng ống (Bảng 3.24); tạp bay hơi sau đóng ống (Bảng 3.25); tạp vô cơ sau đóng ống (Bảng 3.26); hàm lượng công bố trên ống chuẩn (Hình 3.45); nghiên cứu độ ổn định ống chuẩn (Bảng 3.27).

Chất chuẩn định tính: cleisindoside A và 7',8'-dehydrocleistantoxin (CT1). Tính chất ghi nhận ở Bảng 3.28–3.36 bao gồm góc quay cực riêng, nhiệt độ nóng chảy, dữ liệu phổ IR, UV, HR-ESI-MS và ¹H, ¹³C-NMR. Tóm tắt tiêu chuẩn chất lượng chất chuẩn định tính cleisindoside A (Bảng 3.34) và 7',8'-dehydrocleistantoxin/CT1 (Bảng 3.35).

Xây dựng phương pháp định tính và định lượng

Chương trình gradient tách hỗn hợp 4 chất (Bảng 3.37). Điều kiện chiết mẫu dược liệu được khảo sát qua hàm lượng cleistantoxin và cleisindoside D chiết bằng các hệ dung môi khác nhau (Hình 3.55) và các kỹ thuật chiết khác nhau (Hình 3.56); sơ đồ quy trình chiết đồng thời xây dựng và mô tả ở Hình 3.57. Định tính 4 lignan bằng HPLC/DAD với 4 chất chuẩn đã thiết lập.

Kết quả thẩm định phương pháp định lượng đồng thời (6 lần tiêm dung dịch chuẩn hỗn hợp, Bảng 3.38):

Chỉ tiêu Cleisindoside D Cleistantoxin
Khoảng nồng độ tuyến tính Bảng 3.39 Bảng 3.39
Độ lặp lại (% RSD) Bảng 3.40 Bảng 3.40
Độ tái lặp (% RSD) Bảng 3.41 Bảng 3.42
Độ đúng (% phục hồi) Bảng 3.43 Bảng 3.44

Kết quả hàm lượng cleisindoside D và cleistantoxin trong quả các loài thuộc chi Cách hoa được trình bày ở Bảng 3.45. SKĐ định tính 4 lignan trong quả một số loài thuộc chi Cách hoa thể hiện ở Hình 3.60.

Chương 4. Bàn luận

Chương bàn luận được cấu trúc song song với kết quả nghiên cứu, lần lượt thảo luận về: (4.1) phân lập thô trên cột silica gel và lý do chọn phân đoạn; (4.2 và 4.3) phân lập, tinh chế và khẳng định cấu trúc cleistantoxin và cleisindoside D — so sánh dữ liệu phổ thu được với tài liệu công bố [82], [83]; (4.4) khẳng định cấu trúc cleisindoside A; (4.5) các chất mới phân lập; (4.1 phần thiết lập) bàn về lựa chọn phương pháp cân bằng khối lượng (mass-balance) để xác định độ tinh khiết chất chuẩn gốc; (4.2a) thiết lập chất chuẩn gốc định lượng; (4.2b) tiêu chuẩn chất lượng chất chuẩn định tính cleisindoside A và CT1; (4.3) bàn luận về xây dựng và thẩm định phương pháp định tính, định lượng.


Kết quả và những đóng góp mới

Theo mục "Những đóng góp mới của luận án" (trang 146), luận án tự nêu các đóng góp sau:

Về lý luận và khoa học:

  • Lần đầu tiên tại Việt Nam thiết lập hai chất chuẩn gốc định lượng cleistantoxin và cleisindoside D từ quả cây Chả chôi (Cleistanthus tonkinensis) theo quy trình đầy đủ của ISO GUIDE 35 và hướng dẫn IP, WHO, USP — bao gồm xác định tạp hữu cơ (HPLC/DAD), tạp bay hơi (TGA/DSC) và tạp vô cơ (tro sulfat).
  • Thiết lập hai chất chuẩn gốc định tính cleisindoside A và 7',8'-dehydrocleistantoxin (CT1).
  • Xác định cấu trúc một số chất mới phân lập được từ quả cây Chả chôi.
  • Xây dựng bộ dữ liệu nhận dạng (phổ IR, UV, HR-ESI-MS, ¹H và ¹³C-NMR, góc quay cực, nhiệt độ nóng chảy) cho bốn chất chuẩn.

Về thực tiễn:

  • Xây dựng và thẩm định phương pháp định tính đồng thời 4 lignan trong quả các loài thuộc chi Cách hoa bằng HPLC/DAD sử dụng 4 chất chuẩn đã thiết lập.
  • Xây dựng và thẩm định phương pháp định lượng đồng thời cleisindoside D và cleistantoxin trong quả Chả chôi bằng HPLC/DAD, áp dụng để xác định hàm lượng trong quả một số loài thuộc chi Cleistanthus (Bảng 3.45).
  • Cung cấp cơ sở chất chuẩn phục vụ kiểm nghiệm cao khô Cleistanthus đang được nghiên cứu phát triển thành nguyên liệu thuốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi nghiên cứu được trình bày trong văn bản, một số giới hạn có thể nhận thấy:

  • Phương pháp định lượng được xây dựng và thẩm định trên mẫu quả Chả chôi (C. tonkinensis) và bước đầu áp dụng trên quả Cách hoa eberhardt (C. eberhardtii), chưa áp dụng toàn diện trên tất cả các loài trong chi Cleistanthus tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu độ ổn định ống chuẩn cleistantoxin và cleisindoside D (Bảng 3.27) mới ở giai đoạn ban đầu; cần theo dõi dài hạn để xác định hạn dùng của chất chuẩn.
  • Luận án tập trung vào thiết lập chất chuẩn gốc; các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng tiếp theo của cao khô nằm ngoài phạm vi nghiên cứu.
  • Chất chuẩn định tính CT1 (7',8'-dehydrocleistantoxin) được phân lập với hàm lượng có hạn từ quả Chả chôi.

Hướng tiếp theo tác giả ngầm định qua phần "Kết luận và kiến nghị" (trang 147): tiếp tục theo dõi độ ổn định dài hạn của chất chuẩn đã thiết lập; áp dụng phương pháp định tính, định lượng để kiểm nghiệm cao khô Cleistanthus trong các giai đoạn thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng.


Giá trị tham khảo

Đối với nghiên cứu sinh và giảng viên trong lĩnh vực kiểm nghiệm thuốc và hóa phân tích: Chương 1 (mục 1.3 về tổng quan chất chuẩn) và Chương 2 (phương pháp nghiên cứu) cung cấp hệ thống khái niệm và quy trình thiết lập chất chuẩn gốc theo ISO GUIDE 35, IP, WHO và USP — có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phương pháp luận cho các đề tài thiết lập chất chuẩn gốc từ hợp chất thiên nhiên khác.

Đối với người làm thực hành kiểm nghiệm tại Viện Kiểm nghiệm Thuốc: Phần thẩm định phương pháp HPLC/DAD định tính và định lượng đồng thời các lignan (Chương 3) trình bày chi tiết điều kiện sắc kí, quy trình xử lý mẫu và tiêu chí chấp nhận — có thể tham chiếu khi xây dựng phương pháp kiểm nghiệm cho các chế phẩm có nguồn gốc từ dược liệu chi Cleistanthus.

Đối với nhà nghiên cứu hóa học các hợp chất thiên nhiên: Danh mục hình từ Hình 3.7 đến Hình 3.32 (tương tác COSY, HMBC, NOESY) cùng dữ liệu phổ NMR ¹H và ¹³C của các chất CT1–CT8 và chất đã biết là nguồn tham chiếu phổ cho các hợp chất khung aryltetralin lignan.

Đối với người làm chính sách trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa thuốc: Phần tình hình thiết lập chất chuẩn gốc tại Việt Nam (Chương 1) mô tả hiện trạng VKNT TƯ và VKNT TP.HCM, có thể tham chiếu khi xây dựng lộ trình phát triển chất chuẩn gốc từ dược liệu trong nước.


Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao lại chọn quả cây Chả chôi (Cleistanthus tonkinensis) thay vì hai loài còn lại trong chi để phân lập nguyên liệu thiết lập chất chuẩn?

Văn bản cho biết quả cây Chả chôi có hàm lượng hai hoạt chất cleistantoxin và cleisindoside D cao nhất trong ba loài được khảo sát (C. indochinensis, C. tonkinensis và C. eberhardtii). Đây là tiêu chí chính để lựa chọn nguồn nguyên liệu cho phân lập với lượng đủ lớn phục vụ thiết lập chất chuẩn.

2. Hai chất chuẩn gốc định lượng cleistantoxin và cleisindoside D có độ tinh khiết như thế nào, và được xác định bằng phương pháp nào?

Theo yêu cầu nêu ở Chương 2, chất chuẩn gốc định lượng phải có độ tinh khiết sắc kí > 95%. Độ tinh khiết được xác định bằng phương pháp cân bằng khối lượng: tạp hữu cơ bằng HPLC/DAD (chuẩn hóa diện tích), tạp bay hơi bằng TGA/DSC (lượng mẫu 10–20 mg), tạp vô cơ bằng tro sulfat. Giá trị cụ thể ghi nhận ở Bảng 3.19, 3.20, 3.21 (cleistantoxin) và Bảng tương ứng cho cleisindoside D.

3. Phương pháp HPLC/DAD định lượng đồng thời cleistantoxin và cleisindoside D trong mẫu quả được thẩm định theo những chỉ tiêu nào, và kết quả LOD là bao nhiêu?

Phương pháp được thẩm định các chỉ tiêu: độ ổn định hệ thống, khoảng tuyến tính, LOD (cleistantoxin: 0,05 µg/mL; cleisindoside D: 0,1 µg/mL theo Hình 3.38), LOQ, độ lặp lại, độ tái lặp và độ đúng trên mẫu thực (Bảng 3.40–3.44). Độ tinh khiết pic của cleisindoside D và cleistantoxin trong dung dịch chuẩn, thử và thử thêm chuẩn được kiểm tra bằng phổ 3D DAD (Hình 3.42, 3.43, 3.44).

4. Cơ chế gây độc tế bào ung thư của cleistantoxin và cleisindoside D là gì, và kết quả thử nghiệm in vivo trên chuột Nude ra sao?

Theo mô phỏng tính toán trong văn bản, hai hợp chất tương tác với ba con đường apoptosis: nội bào, ngoại bào và con đường qua kênh Perforin/granzyme B. Ái lực mạnh nhất với PARP-I: cleisindoside D cho ái lực −10. Thử nghiệm in vivo trên chuột Nude mang u phổi người: sau 6 tuần, nhóm CT-HSB 2 (100 mg/kg) có 100% chuột còn sống, thời gian sống kéo dài hơn nhóm chứng 45,43%; nhóm CT-HSB 1 (50 mg/kg) còn 60% chuột và thời gian sống dài hơn 21,14%; nhóm chứng còn 20% chuột.

5. Sự khác nhau giữa chất chuẩn gốc (PCRS) và chất chuẩn thứ cấp (SCRS) là gì, và tại thời điểm luận án thực hiện, Việt Nam đang ở mức độ nào trong thiết lập chất chuẩn?

Theo ICH Guideline Q7 và WHO được trích dẫn trong luận án: PCRS là chất được xác định đầy đủ đặc tính bằng nhiều kỹ thuật phân tích độc lập, giá trị ấn định không cần so sánh với chất chuẩn khác; SCRS là chất được xác định bằng cách so sánh với PCRS. Tại Việt Nam, VKNT TƯ và VKNT TP.HCM chủ yếu thiết lập chất chuẩn thứ cấp; VKNT TƯ cung cấp 10 chất chuẩn thứ cấp từ dược liệu và hàng trăm chất tân dược; VKNT TP.HCM cung cấp 213 chất tân dược và 18 chất từ dược liệu (tính đến tháng 8/2018). Hầu như chưa có công bố về thiết lập chất chuẩn gốc tại Việt Nam trước thời điểm luận án này.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Lâm Hồng (Trường Đại học Dược Hà Nội, 2019) giải quyết vấn đề thiếu chất chuẩn đối chiếu cho hai hoạt chất aryltetralin lignan — cleistantoxin và cleisindoside D — phân lập từ quả cây Chả chôi (Cleistanthus tonkinensis) có hoạt tính kháng ung thư đã được ghi nhận. Công trình thiết lập lần đầu tiên hai chất chuẩn gốc định lượng và hai chất chuẩn gốc định tính theo quy trình ISO GUIDE 35 với đầy đủ ba nhóm tạp (hữu cơ, vô cơ, bay hơi), lấp khoảng trống mà trước đó Việt Nam chưa có công bố về thiết lập chất chuẩn gốc. Trên cơ sở bốn chất chuẩn này, phương pháp HPLC/DAD định tính và định lượng đồng thời được xây dựng, thẩm định và áp dụng trên mẫu quả thực, tạo tiền đề cho kiểm nghiệm nguyên liệu thuốc và cao khô đang trong giai đoạn nghiên cứu phát triển. Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Kiểm nghiệm thuốc và độc chất, kết hợp hóa học hợp chất thiên nhiên với phân tích dược phẩm, và được tài trợ bởi Đề tài độc lập cấp Nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ.