Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của hai loài ngọc cẩu balanophora laxiflora hemst và loài vú bò ficus hirta vahl

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của ngọc cẩu Balanophora Laxiflora và vú bò Ficus Hirta, mở ra tiềm năng ứng dụng trong y học.

Chuyên ngành

Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

141
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu thành phần hóa học

Nghiên cứu thành phần hóa học của hai loài ngọc cẩu (Balanophora laxiflora) và vú bò (Ficus Hirta) đã chỉ ra sự phong phú và đa dạng của các hợp chất hóa học. Các hợp chất được phân lập từ loài ngọc cẩu bao gồm các dẫn xuất của acid cinamic, phenylpropanoid, và tanin. Đặc biệt, các hợp chất như 4-Hydroxy-3-methoxycinnamandehid và methyl 4-hydroxycinnamate đã được xác định có hoạt tính sinh học cao. Việc xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất này được thực hiện thông qua các phương pháp phổ như IR, MS, và NMR. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng các hợp chất từ loài ngọc cẩu có khả năng chống oxy hóa và kháng viêm, điều này mở ra hướng nghiên cứu mới cho việc phát triển các sản phẩm dược phẩm từ thiên nhiên.

1.1. Thành phần hóa học của ngọc cẩu

Ngọc cẩu (Balanophora laxiflora) chứa nhiều hợp chất có giá trị dược lý. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng loài này có chứa các hợp chất phenolic, flavonoid, và tanin, có khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ. Hợp chất BL-1 (4-Hydroxy-3-methoxycinnamandehid) và BL-2 (methyl 4-hydroxycinnamate) là những ví dụ điển hình cho hoạt tính sinh học của loài này. Các hợp chất này không chỉ có tác dụng chống oxy hóa mà còn có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Việc phân lập và xác định cấu trúc của các hợp chất này là rất quan trọng để hiểu rõ hơn về cơ chế tác động của chúng trong y học cổ truyền.

1.2. Thành phần hóa học của vú bò

Vú bò (Ficus Hirta) cũng là một nguồn tài nguyên quý giá với nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học. Các nghiên cứu cho thấy loài này chứa các hợp chất flavonoid, tannin, và terpenoid, có khả năng kháng viêm và chống oxy hóa. Hợp chất F-2 (umbelliferon) là một trong những hợp chất nổi bật, đã được chứng minh có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Việc nghiên cứu thành phần hóa học của vú bò không chỉ giúp làm sáng tỏ giá trị dược lý của loài này mà còn mở ra cơ hội cho việc phát triển các sản phẩm từ thiên nhiên phục vụ cho sức khỏe con người.

II. Hoạt tính sinh học

Hoạt tính sinh học của ngọc cẩu và vú bò đã được khảo sát thông qua nhiều phương pháp thử nghiệm khác nhau. Các nghiên cứu cho thấy rằng các cao chiết từ ngọc cẩu có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư, đặc biệt là trên dòng tế bào OCI-AML. Hoạt tính kháng viêm cũng được ghi nhận, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong điều trị các bệnh lý viêm nhiễm. Đối với vú bò, các hợp chất phân lập cũng cho thấy hoạt tính sinh học tương tự, với khả năng ức chế sản sinh nitric oxide, một yếu tố quan trọng trong quá trình viêm.

2.1. Hoạt tính sinh học của ngọc cẩu

Nghiên cứu về hoạt tính sinh học của ngọc cẩu (Balanophora laxiflora) cho thấy các cao chiết từ loài này có khả năng gây độc tế bào mạnh mẽ. Kết quả thử nghiệm cho thấy các hợp chất phân lập từ ngọc cẩu có thể ức chế sự phát triển của tế bào ung thư, đặc biệt là tế bào OCI-AML. Điều này cho thấy tiềm năng của ngọc cẩu trong việc phát triển các liệu pháp điều trị ung thư. Ngoài ra, các hợp chất này cũng có hoạt tính kháng viêm, giúp giảm triệu chứng viêm nhiễm, mở ra hướng nghiên cứu mới cho việc ứng dụng trong y học.

2.2. Hoạt tính sinh học của vú bò

Vú bò (Ficus Hirta) cũng cho thấy hoạt tính sinh học đáng kể. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hợp chất từ loài này có khả năng ức chế sản sinh nitric oxide, một yếu tố quan trọng trong quá trình viêm. Hơn nữa, các hợp chất như umbelliferon đã được chứng minh có tác dụng kháng viêm và chống oxy hóa. Việc nghiên cứu hoạt tính sinh học của vú bò không chỉ giúp khẳng định giá trị dược lý của loài này mà còn mở ra cơ hội cho việc phát triển các sản phẩm từ thiên nhiên phục vụ cho sức khỏe con người.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của ngọc cẩu và vú bò không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn lớn. Việc phát hiện các hợp chất mới và hoạt tính sinh học của chúng có thể dẫn đến việc phát triển các sản phẩm dược phẩm mới từ thiên nhiên. Điều này không chỉ giúp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật mà còn góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng. Hơn nữa, việc nghiên cứu này cũng hỗ trợ cho việc xây dựng các chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam.

3.1. Giá trị khoa học

Nghiên cứu này cung cấp những thông tin quý giá về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của ngọc cẩu và vú bò. Các hợp chất được phân lập và xác định cấu trúc không chỉ làm phong phú thêm kiến thức về hóa học thực vật mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực dược lý. Việc hiểu rõ về cơ chế tác động của các hợp chất này sẽ giúp các nhà khoa học phát triển các liệu pháp điều trị hiệu quả hơn.

3.2. Ứng dụng trong y học

Các hợp chất từ ngọc cẩu và vú bò có tiềm năng lớn trong việc phát triển các sản phẩm y học mới. Việc ứng dụng các hợp chất này trong điều trị các bệnh lý như ung thư, viêm nhiễm sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng khuyến khích việc sử dụng các sản phẩm từ thiên nhiên, phù hợp với xu hướng hiện đại trong y học.

06/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Tài nguyên cây thuốc đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh cho con người, đặc biệt ở các nước nghèo, đang phát triển và có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ngày nay có khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển với dân số khoảng 4,5 đến 5 tỉ người trên thế giới có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nền y học cổ truyền. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới, có nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú và đa dạng. Theo kết quả điều tra nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005 của Viện Dược liệu Việt Nam, hiện Việt Nam có khoảng 10.500 loài thực vật bậc cao, nằm trong 2.275 chi, 305 họ trong đó có 3.950 loài được dùng làm thuốc (17% số cây thuốc của thế giới), không kể cây thuốc dân tộc (Ethno- medicinal plants) còn ít biết [1].

Y dược cổ truyền Việt Nam có nhiều loại cây thuốc quý, nhiều bài thuốc hay được sử dụng từ hàng ngàn năm trước đến nay vẫn còn nguyên giá trị chữa bệnh, cứu người. Đặc biệt, những bài thuốc bồi bổ cơ thể được nhiều người sử dụng, đã góp phần nâng cao thể trạng, phát triển giống nòi người Việt Nam. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã từng bước lồng ghép Y dược cổ truyền vào hệ thống Y tế quốc gia, phát huy được vai trò to lớn của Y dược cổ truyền. Đường lối phát triển Y dược học cổ truyền Việt Nam đã được khẳng định nhất quán trong nhiều năm qua là: kế thừa, phát huy, phát triển y dược học cổ truyền, kết hợp với y học hiện đại, xây dựng nền y dược học cổ truyền Việt Nam khoa học dân tộc và đại chúng.

Hiện đại hóa y dược cổ truyền và kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại đang là mục tiêu và yêu cầu phát triển của thời đại. Thực hiện tốt công việc này sẽ góp phần đưa sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân lên tầm cao mới. Với mục tiêu hiện đại hóa y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại thì việc phát hiện các vị thuốc mới, các hợp chất có hoạt tính sinh học cao, các hợp chất mới trong các cây thuốc truyền thống là nhiệm vụ hàng đầu của các nhà khoa học. Việt Nam có khoảng 54 dân tộc cùng sinh sống như dân tộc Kinh, Tầy, Dao, Sán Chay, Mông, Nùng, Sán Dìu, Ê đe.

Một số dân tộc có những cây thuốc quý, những bài thuốc gia truyền có giá trị chữa, trị bệnh có hiệu quả được người dân tin dùng và được hội Đông Y Việt Nam công nhận tuy nhiên những bài thuốc của người dân ít được chứng minh bằng khoa học. Cây ngọc cẩu (Balanophora laxiflora Hemsl.), cây vú bò (Ficus 2 hirta Vahl.) là những cây thuốc quý trong kho tàng cây thuốc, vị thuốc Việt Nam, hai loài này đã được người dân dùng trị, chữa bệnh thông thường và trị nhiều chứng bệnh nan y có hiệu quả như: bổ máu, phục hồi sức khỏe phụ nữ sau sinh, kích thích ngon miệng, chữa đau bụng, nhức mỏi chân tay…. Trên thế giới đã công bố những chất được tách ra từ hai loài trên có hoạt tính sinh học tốt như hoạt tính kháng viêm, kháng ung thư, chống oxi hóa. Việc nghiên cứu thành phần hóa học và khảo sát hoạt tính sinh học của loài ngọc cẩu và loài vú bò góp phần làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược quản lý, bảo tồn, phát triển bền vững tính đa dạng sinh học của rừng đặc dụng của Việt Nam, làm sáng tỏ những công dụng loài vú bò và loài ngọc cẩu mà nhân dân vẫn đang sử dụng.

Do đó tôi chọn đối tượng đề tài “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt sính sinh học của hai loài ngọc cẩu (Balanophora laxiflora Hemsl.) và vú bò (Ficus hirta Vahl.)” Theo hướng nghiên cứu này, luận án có các nội dung sau: 1. Nghiên cứu được thành phần hóa học của hai loài: loài ngọc cẩu (B. Xác định cấu trúc hóa học các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp phổ IR, MS, 1D-NMR, 2D-NMR. Đánh giá một số hoạt tính độc tế bào, hoạt tính kháng viêm, hoạt tính chống tăng sinh trên dòng tế bào tủy xương cấp tính (OCI-AML) của các cao chiết và của một số hợp chất phân lập được nhằm định hướng cho các nghiên cứu ứng dụng tiếp theo.

Việc nghiên cứu thành phần hóa học và khảo sát hoạt tính sinh học của loài ngọc cẩu và loài vú bò làm sáng tỏ những công dụng dân gian đã dùng và tìm ra những chất mới, hoạt chất mới góp phần làm phong phú thêm những nghiên cứu về loài ngọc cẩu và loài vú bò. Giới thiệ về loài ngọc cẩ (B. Chi Balanophora Chi Balanophora có khoảng 120 loài thuộc họ Balanophoraceae phân bố trên khắp thế giới. Nhiều loài trong số chúng phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Châu Á, Châu Đại Dương và gần 20 loài được phân bố rộng rãi ở Tây Nam Trung Quốc [2, 3].

Những loài thuộc chi Balanophora thường sống ký sinh trên rễ cây lá rộng thường xanh, đặc biệt là trong họ Leguminosae, Ericaceae, Urticaceae, và Fagaceae [2,4-5]. Ở Việt Nam hiện có khoảng 6 loài thuộc chi Balanophora: B.abbreviata trong đó loài B. cucphuongensis là loài đặc hữu chỉ có ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Cúc Phương [6-10]. Những nghiên cứu về thực vật các loài thuộc họ Balanophoraceae cho thấy trong chi Balanophora có thành phần hóa học rất đa dạng, bao gồm các hợp chất lignan, phenylpropanoid, tanin, flavonoid, terpenoid, acid amin.

Chi Balanophora có rất nhiều loại tanin thủy phân (tanin pyrogallic), đặc biệt là chất ellagitannin. Thành phần cấu tạo đặc trưng của các tanin này là các dẫn xuất của acid cinamic và có thêm một dẫn xuất của acid phenylacrylic [caffeoyl, coumaroyl, feruloyl hoặc cinnamoyl), trong đó ở vị trí C-1 liên kết glucosid dưới dạng R–O–glycosidic (R: galloyl, caffeoyl và hexahydroxydiphenoyl (HHDP)], ở các vị trí C-3, C-4 hoặc C-6 liên kết theo kiểu ester R-CO-O-glycosidic [11]. Các hợp chất được tách ra từ chi Balanophora có hoạt tính chống oxy hóa [2, 5, 12], ức chế HIV [13], hạ đường huyết [14, 15], chống viêm, giảm đau [16, 17], kháng ung thư [18]. Các loài thuộc chi Balanophora được sử dụng trong Y học cổ truyền Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nepan, Thái Lan, Việt Nam làm thuốc bổ sinh lý nam nữ, giải độc rượu, chữa bệnh trĩ, đau dạ dày, ho gà, bệnh lậu, giang mai…[5-10, 19, 21-22].

Loài ngọc cẩu (B. Tên gọi Tên khoa học: Balanophora laxiflora Tên thông thường: ngọc cẩu, tỏa dương, củ gió đất, củ ngọt núi, hoa đất, cu chó, xà cô, nấm đất, dó đất hoa thưa, dương đài hoa thưa [6-10]. 4 Phân loại khoa học [2-10]. Giới thực vật: Plantae Ngành Mộc lan: Magnoliophyta Lớp Mộc lan: Magnoliopsida Bộ Dương đài: Balanophorales Họ Dó đất: Balanophoraceae Chi: Balanophora Loài: Balanophora laxiflora 1.

Đặc điểm thực vật loài ngọc cẩu (B. laxiflora Hemsl) Ngọc cẩu là loại cây cỏ mập, trông như một cây nấm, sống ký sinh trên rễ cây lá rộng thường xanh, đặc biệt là trong họ Leguminosae, Ericaceae,Urticaceae, và Fagaceae, màu đỏ nâu sẫm, không diệp lục. Cấu tạo bởi một cán hoa lớn, trên mang hoa dày đặc, có mô bao bọc, màu tím, mùi hôi. Cán hoa nạc và mềm, dạng thay đổi, sần sùi, không có lá.

Củ hình trứng, đường kính 2 - 2,5 cm, bề mặt sần sùi và có mụn hình sao nổi rõ. Hoa đơn tính khác gốc, hợp thành nột cụm hoa dạng bông nạc. Hoa đực và hoa cái riêng. Cụm hoa đực hình trụ, gồm những hoa gần như không cuống, dài từ 10 - 15 cm, bao gồm sáu mảnh, trong đó hai mảnh giữa (đối diện nhau) lớn hơn và cụt đầu, các mảnh bên hình trái xoan tròn đầu, khối phấn bị ép ngang.

Cụm hoa cái hình bầu dục thuôn, dài từ 2-3 cm không có bao hoa, mọc ở quanh chân của vảy bảo bệ. Vảy hình trứng lõm ở đỉnh, một vòi nhụy [2-10]. Cây đực (♂) Cây cái (♀) Hình 1. Cây ngọc cẩu (B.

Công dụng chữa bệnh của loài ngọc cẩu (B. laxiflora) * Theo Y học cổ truyền. Cây ngọc cẩu dùng làm thuốc bổ máu, phục hồi sức khỏe phụ nữ sau sinh, kích thích ngon miệng, chữa đau bụng, nhức mỏi chân tay…. Ở Trung Quốc, toàn cây ngọc cẩu dùng trị hư lao, xuất huyết, chữa đau lưng, lở trĩ, giải độc rượu, thuốc bổ sinh lý nam nữ… [2-10].

* Một số bài thuốc dân gian dùng cây ngọc cẩu chữa bệnh: + Bài thuốc giúp phục hồi sức khỏe phụ nữ sau sinh Ngọc cẩu 15 - 20 g, ích mẫu thảo khô 30 g, cho vào 3 bát nước sắc còn 1 bát. Sau đó sắc nước 2, nước 3. Đổ lẫn 3 bát thuốc của 3 lần, sắc lại còn 1 bát, chia 2 - 3 lần uống sau khi ăn trong ngày. Cần uống liền 30 ngày sẽ cho kết quả rất tốt.

+ Bài thuốc chữa nam sinh lý yếu Ngọc cẩu 100g, rễ đinh lăng 100g, ba kích 80g, dâm dương hoắc (sao với mỡ dê) 50g, đương quy 50g, hà thủ ô đỏ 50g, câu kỷ tử 50g, thục địa 50g, bạch truật 50g, trần bì 30g. Tất cả ngâm với 5 lít rượu gạo có độ cao, sau 20 ngày là sử dụng. Ngày uống 2 lần vào trước hoặc sau bữa ăn hay trước lúc ngủ, mỗi lần 30 ml. + Bài thuốc chữa liệt dương Ngọc cẩu 12g, thục địa 15g, sơn thù 15g, sơn dược 15g, phục linh 12g, câu kỷ tử 15g, nhục thung dung 12g, dâm dương hoắc 30g, ba kích 12g, bạch nhân sâm 12g, lộc nhung 6g, táo nhân (sao) 12g, thỏ ty tử 12g, thiên môn đông 9g, cam thảo 9g.

Tán bột mịn, làm hoàn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 hoàn 9g, chiêu với nước trắng, kiêng ăn các thức tanh lạnh trong thời gian sử dụng thuốc. + Bài thuốc bổ thận tráng dương Ngọc cẩu 15 g, nhân sâm 12 g, hoàng kỳ 16 g, đỗ trọng 16 g, nhục thung dung 8 g, thỏ ty tử 12 g, xa sàng tử 12 g, phúc bồn tử 12 g, đương quy 12 g, bạch truật 12 g, thục địa 16 g, ba kích 12 g, dâm dương hoắc 12 g, lộc nhung 12 g, câu kỷ tử 12 g, đại táo 5 quả, long nhãn 10 g, cam thảo 6 g, xuyên khung 8 g, hà thủ ô đỏ 12 g. Sắc ngày 1 thang lấy 3 lần nước thuốc rồi làm lại còn 250 ml, chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống liền 7 thang.

Nếu uống được rượu thì có thể dùng phương trên nhưng mỗi vị cần gấp 5 lần cho cả thang thuốc, ngâm với 5 lít rượu trong 30 ngày rồi mới gạn rượu và cho vào 500 ml mật ong trộn đều để uống dần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của ngọc cẩu Balanophora Laxiflora và vú bò Ficus Hirta" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hợp chất hóa học có trong hai loài thực vật này, cùng với những hoạt tính sinh học tiềm năng của chúng. Nghiên cứu không chỉ làm rõ thành phần hóa học mà còn chỉ ra những ứng dụng có thể trong y học và công nghiệp dược phẩm, từ đó mở ra hướng đi mới cho việc khai thác và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học của hai loài tai chua garcinia cowa roxb ex choisy và đằng hoàng garcinia hanburyi hook f ở việt nam, nơi khám phá các hoạt chất từ những loài cây khác. Ngoài ra, bài viết Luận án nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài sưa dalbergia tonkinensis prain ở việt nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về hoạt tính sinh học của các loài thực vật quý hiếm. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào ung thư cây đại bi blumea balsamifera l dc và cây ngải cứu artemisia vulgaris l thuộc họ cúc asteraceae, để thấy rõ hơn về tiềm năng ứng dụng trong điều trị bệnh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nghiên cứu hóa học và sinh học thực vật.